" Đâu Cũng nh - Nh v quê hương - Ci ngun dân tc - M

y ai mà quên?" (TKL)

Tìm kiếm Blog này

Thứ Năm, 8 tháng 11, 2012

Năm Tỵ Nói Chuyện Rắn


Năm Tỵ Nói Chuyện Rắn

(Hương Giang Thái Văn Kiểm)

Năm Rồng vừa chấm dứt thì năm Rắn liền tới với chúng ta. Cảnh tượng quen thuộc ngày xưa vẫn còn lai vãng tâm trí mọi người:

Rồng chầu ngoài Huế
Ngựa tế Đồng Nai,
Nước sông trong chảy lộn sông ngoài
Thương người xa xứ lạc loài tới đây,
Tới đây thì ở lại đây
Bao giờ bén rễ xanh cây sẽ về!
Rồng xanh, rồng vàng tạm lánh mình trong thời gian 12 năm, nhường chỗ cho rắn với năm Tân Tị khởi đầu ngày Nguyên Đán, mồng một tháng Giêng, tức là ngày 24.1.2001. Chúng ta biết rằng Âm lịch khai dung từ năm 2,637 trước Kitô, nhằm năm 61 đời Hoàng đế bên Trung Quốc. Như vậy Âm lịch đã xuất hiện cách đây: 2,637 năm cộng 2001, vị chi: 4,638 năm. Năm nay, 2001 thuộc vào "Vận niên lục giáp" thứ 78, khởi đầu từ năm 1984 và sẽ chấm dứt vào năm 2,043. Biết rằng mỗi giáp trên nguyên tắc chỉ có 10 năm mà thôi (chẳng phải là 12 năm), thì lục giáp là 10 x 6 = 60 năm, tức là một thế kỷ của Lịch đại Á Đông. Chu kỳ 60 năm này, người Tây phương gọi là Cycle sexagésimal. Chu kỳ này luôn luôn khởi đầu với năm Giáp Tý, cho nên quyển lịch chính thức của ta, được gọi là Hoàng Việt Giáp Tý Niên Biểu, do cụ Nguyễn Bá Trác, Quan Lộc Tự Khanh, Tá Lý Bộ Học (Huế) biên soạn, và do Bộ Học ấn hành năm Khải Định thập niên, tam nguyệt nhựt (1925).

Nếu đại chu kỳ là 60 năm, thì tiểu chu kỳ là 12 năm, khởi đầu với năm Tý, mà biểu tượng là Chuột. Chu kỳ này, Tây Phương gọi là Cycle duodénaire. Trong một đại chu kỳ 60 năm, có năm tiểu chu kỳ 12 năm (12 x 5 = 60), biết rằng 60 là tối thiểu bội số chung của 10 và 12 (10 là phần Giáp (Thập can), còn 12 là phần Tý (Thập nhị chi).

Những Điều Nên Biết Về Loài Rắn

Nói tới loài Rắn, chúng ta phải chia ra hai loại: rắn hiền và rắn dữ. Cả hai đều thuộc ngành Bò sát (Raptiles), họ Ophidiens. Rắn hiền như rắn nước, rắn học trò... bơi lội thong thả nơi hồ ao, kiếm ăn tôm cá, ếch nhái. Loại rắn này dễ lầm lẫn với giống lươn (anguille), mà chúng ta tìm thấy trong câu đối lạ lùng, lửng lơ và lắt léo sau đây:

Le lội lung lăng lay lá lách
Lươn lo lòn lỏi lọt lùm lau.
Trong loài rắn dữ, tức là rắn độc, chúng ta không khỏi rùng mình khi nhắc tới: rắn hổ mà Tây phương gọi là Cobra, Naja tripudians, rắn hổ mang mà họ gọi là Bongare, Bungarus fasciatus, rắn lục mà họ gọi là Serpent vert, Serpent bananier, Trimeresurus, rắn đẻn mà họ gọi là Vipere lachesis... Nhưng mà con rắn dễ sợ và nguy hiểm nhất, dài tới 4 thước, là con Ophiophagus elaps, hay là Naja hamadryas, sinh sản khá nhiều bên Ấn Độ. Rắn này có khả năng rượt theo người để cắn chết. Nhà văn Maurice Maindron có nói tới giống rắn này trong quyển tiểu thuyết La Gardienne de I' Idole Noire. Tuy thế, cũng con rắn đó đã tự ý quấn thân nhiều vòng, để làm thành một cái bệ cao, chịu cho Đức Phật an tọa lên trên, mà tham thiền nhập định, tránh cho Ngài khỏi bị bệnh tê thấp và đồng thời tỏ ra sự quy thuận hoàn toàn đối với thần lực vô lường của Ngài.

Rắn Trong Lịch Sử Việt Nam

Trong lịch sử ta có biết bao nhiêu là truyện rắn. Chúng ta chỉ nhắc lại một truyện điển hình nhất là Thị Lộ mà người đương thời cho là hiện thân của loài rắn độc, có thể toát lược như sau:

Năm Nhâm Tuất (1442), vua Lê Thái Tông (con vua Lê Lợi) đi tuần du phương đông, duyệt võ ở Chí Linh. Nguyễn Trãi lúc bấy giờ đã về trí sĩ tại Côn Sơn, bèn ra nghênh tiếp xa giá nhà vua. Lê Thái Tông bèn đến viếng chùa Côn Sơn là nơi có ẩn am của Nguyễn Trãi. Nhìn thấy tì thiếp của Nguyễn Trãi là Nguyễn Thị Lộ nhan sắc lộng lẫy, lại có biệt tài về văn chương, vua Lê Thái Tông bèn phong cho chức Lễ Nghi Học Sĩ, ngày đêm hầu bên cạnh nhà vua. Đến khi Đông tuần, xa giá về tới Trại Vải (Lệ Chi Viên), thuộc xã Đại Lại, huyện Gia Định, nay là Gia Bình, thình lình nhà vua nhuốm bệnh, lên cơn sốt dữ dội. Thị Lộ phải hầu hạ, thang thuốc suốt đêm, rồi nhà vua băng hà. Các quan hốt hoảng, vội vã và bí mật phụng giá về Kinh, nửa đêm vào cung mới làm lễ phát tang. Tất cả triều thần đều buộc tội Thị Lộ đã âm mưu giết vua, liền đem nàng ra giết chết.

Có sách nói rằng Thị Lộ đã bỏ thuốc độc vào chén cho vua uống. Có sách nói vua bị cắn lưỡi mà chết. Riêng phần Nguyễn Trãi, ông chỉ nói rằng: "Nếu có tội thì cứ chiếu pháp luật mà nghiêm trị".

Thảm trạng này xảy ra đúng lúc trong triều có nhiều võ quan theo phe Lê Sát, sinh lòng đố kỵ vì thấy ngày trước Nguyễn Trãi được Vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi) trọng dụng, đem lòng oán ghét, nhân cơ hội này, liền nghi Nguyễn Trãi là chủ mưu sát đế. Thế là sau đó, quan Thừa Chỉ Nhập Nội Hành Khiển Đại thần Nguyễn Trãi đã bị giết và cả ba họ bị tru di.

Truyền thuyết cho rằng: lúc lập vườn tại Côn Sơn, lính hầu của Nguyễn Trãi đã giết chết một ổ rắn gồm mấy mẹ con. Sau đó rắn mẹ tái sinh, bò lên trần nhà nhìn Nguyễn Trãi đọc sách. Rắn nhỏ xuống một giọt máu đào, xuyên thấm qua ba tờ giấy, nhằm ám chỉ là ba họ. Về sau, cũng con rắn đó đã hiện thân nơi Thị Lộ làm ả bán chiếu Gon  ở Tây Hồ, gặp Nguyễn Trãi, có xướng họa như sau:

Chiếu Gon

 ở nơi đâu, bán chiếu Gon?
Chẳng hay chiếu đã hết hay còn?
Xuân xanh chừng độ bao nhiêu tuổi?
Đã có chồng chưa? Được mấy con?
Tôi ở Tây Hồ bán chiếu Gon
Cớ chi ông hỏi hết hay còn?
Xuân xanh mới độ trăng tròn lẻ,
Chồng còn chưa có, hỏi chi con!
Sau đó thì Thị Lộ đã trở thành tì thiếp của Nguyễn Trãi, nhập được gia đình ông ta, để âm mưu phục thù, trả nợ máu ngày xưa là mấy mẹ con đã bị giết oan nơi bụi rậm.

Cái án oan này, mãi đến 22 năm sau, vua Lê Thánh Tông mới xét lại. Đó là vụ án lịch sử Lệ Chi Viên. Vua thấy có nhiều điều hàm hồ, oan ức cho một đại công thần khai quốc, liền truyền hủy bỏ bản án trước kia, truy phục chức cho Nguyễn Trãi, tức Lê Trãi, con cháu ông được tìm kiếm và đưa ra làm quan, lại cấp tư điền để con cháu lo việc tế tự hàng năm (1).

Sở dĩ vua Lê Thánh Tông đã duyệt lại bản án là vì vợ nhà vua tên Nguyễn Thị Hằng (1445-1505) là cháu gái 4 đời của bà Châu Thị, vợ nhất của Nguyễn Trãi, đã trốn thoát được bản án tru di tam tộc 1442, chạy vào Nam Hà ẩn náu và sinh sống. Bà Châu Thị đem theo được nhiều con, trong đó có Nguyễn Công Duẫn, rồi Duẫn sinh ra Nguyễn Đức Trung, rồi Trung sinh ra Nguyễn Văn Lãng, Lãng sinh ra Nguyễn Hoằng Dụ, Dụ sinh ra Nguyễn Hoằng Kim, tức là Nguyễn Kim (1500-1545), Kim sinh ra Nguyễn Hoàng (1525-1613), tức là chúa Tiên, chúa đầu tiên của nhà Nguyễn.

Như thế, Nguyễn Kim là hậu duệ của Nguyễn Trãi. Còn hơn thế nữa, ông tổ xa xưa của Nguyễn Trãi lẫn Nguyễn Kim là Nguyễn Bặc, khai quốc công thần đời nhà Đinh và nhà Lý, từ thế kỷ XI. Ngoài ra gia phả của Nguyễn Du, tác giả Kim Vân Kiều, cũng ghi dòng họ lên tới Nguyễn Bặc. Gần đây hơn trong lịch sử cận đại, tiểu sử của đại thần Nguyễn Hữu Độ, Kinh lược Bắc Kỳ, cũng có ghi là hậu duệ của Nguyễn Trãi. Chúng tôi căn cứ trên hai tài liệu sau đây:

Quyển Chrestomathie Annamite (Quảng Tập Viêm Văn) của Edmond Nordemann (Ngô Đề Mân), ấn hành ở Hà Nội năm 1898, trang 26-27.

Bài Les Familles Illustres de l' Annam: S.E.Nguyễn Hữu Độ của L.Sogny, đăng trong Bulletin des Amis du Vieux Hue, năm 1924, trang 169-204.

Còn như sự kiện Nguyễn Du thuộc dòng họ Nguyễn Trãi thì các nhà văn học sử Dương Bá Cung, Lê Thước, Bùi Văn Nguyên, căn cứ trên nhiều bổn gia phả họ Nguyễn ở miền Bắc và miền Trung, đã xác nhận nhiều sự trùng hợp, mà nhà báo Cô Thần đã đúc kết và nêu lên trong báo Tự Do số 1056, ấn hành ở Sài Gòn ngày 22.11.1960, trang đầu: Công việc tra cứu của cụ Lê Thước cho biết Nguyễn Trãi và Nguyễn Du cùng một dòng họ và chung một ông tổ. Ông tổ này là Nguyễn Bặc, mà vua Bảo Đại cũng có nhận là ông tổ của mình, trong quyển sách "Le Dragon d' Annam", Editions Plon, Paris 1980, trang 36-37.

Rắn Trong Văn Học Sử Việt Nam

Trong văn học sử của ta, mà cũng có liên hệ sử Tàu, chúng ta còn nhớ giai thoại bà Đoàn Thị Điểm (sinh năm Ất Dậu 1705, mà người ta cho là tác giả Chinh Phụ Ngâm, mà cũng có người cho là của Phan Huy Ích) đã đối đáp tài tình với ông anh là Đoàn Doãn Luân. Một hôm ông này muốn thử tài cô em gái, bèn lấy một câu chữ trong Sử Ký của Tư Mã Thiên nói về Lưu Bang (Hán Cao Tổ) làm đề tài để cho bà đối đáp. Câu ấy như sau:

Bạch xà đương đạo, Quý bạt kiếm nhi trảm chi

Nghĩa là con rắn trắng đón đường, ông Quý (Lưu Bang) liền rút gươm ra chém (con rắn bị đứt làm hai khúc, chết liền).

Bà Đoàn Thị Điểm nhanh trí, cũng dùng một câu trong Sử Ký đời vua Nghiêu Thuấn, nói về ông Vũ (tức là vua Hạ Vũ, sau này nối ngôi vua Thuấn), để đối lại như sau:

Hoàng Long phụ châu, Vũ ngưỡng thiên nhi thán viết

Nghĩa là: Con Rồng vàng đội chiếc thuyền, ông Vũ nhìn trời mà than!

Cũng trong Văn học sử của ta, Lê Quý Đôn (1726-1784) đã sáng tác một bài thơ thất ngôn bát cú trong một trường hợp khá ly kỳ như sau: Thuở nhỏ, cậu bé Lê Danh Phương (tên đầu tiên của Lê Quý Đôn) rất cứng đầu (rắn đầu) và biếng học. Cha Phương quở trách, ông phải làm một bài thơ "Rắn Đầu" để tạ tội, với điều kiện mỗi câu trong bài bát cú phải có một tên rắn. Phương vâng lời và đọc ngay như một thần đồng:

Chẳng phải "liu điu" vẫn giống nhà
"Rắn đầu" biếng học, chẳng ai tha
Thẹn đèn "hổ lửa" đau lòng mẹ,
Nay thét "mai gầm" rát cổ cha.
"Ráo" mép chỉ quen tuồng nói dối,
"Lằn" lưng cam chịu vết roi tra.
Từ nay "Trâu Lỗ" chăm nghề học.
Kẻo" hổ mang" danh tiếng thế gia.
Đặc điểm của bài thơ này là: nếu ta bỏ hai chữ ở đầu mỗi câu, ta sẽ được một bài Ngũ ngôn bát cú:

Liu điu vẫn giống nhà
Biếng học, chẳng ai tha
Hổ lửa đau lòng mẹ,
Mai gầm rát cổ cha.
Chỉ quen tuồng nói dối,
Cam chịu vết roi tra.
Trâu Lỗ chăm nghề học.
Mang danh tiếng thế gia.
Xin lưu ý: "Trâu" ở đây chỉ loài rắn hổ trâu, Nước Lỗ là quê quán Đức Khổng Tử mà thiên hạ gọi là Vạn Thế Sư Biểu, hay là Sinh Dân Vị Hữu, nghĩa là từ khi có loài người thì chưa có ai (bằng ông ta)! Còn nước Trâu là quê hương của Thầy Mạnh Tử. Tôi còn nhớ một câu xướng độc đáo:

Nước lỗ trâu chảy ra Khổng Mạnh

Nghĩa là: Dòng nước nhỏ từ lỗ chân trâu ra thì không có (khổng) mạnh mẽ.

Câu này khó quá chưa ai đối được cả!

Đã nhắc tới Bảng Nhỡn Lê Quý Đôn (tục danh Lê Danh Phương), tự là Doãn Hậu, hiệu là Quế Đường, sinh ra trong niên hiệu Bảo Thái thứ 7 (1726), đời vua Lê Dụ Tông, thời chúa Trịnh Cương ở xã Diên Hà, tỉnh Sơn Nam (nay là tỉnh Thái Bình), con của ông Lê Phú Thứ và bà họ Trương. Thân sinh đã từng đỗ Tiến sĩ năm 1724 và làm quan đến chức Hình Bộ Thượng Thư. Thuở bé Lê Danh Phương đã nổi tiếng thần đồng về trí thông minh và óc nhớ dai: Hai tuổi đã biết đọc chữ "Hữu" là có, và "Vô" là không. Năm tuổi đã đọc nhiều thiên trong Kinh Thi. Mười một tuổi đã học Sử (Sử Ký của Tư Mã Thiên, Bắc Sử, Nam Sử v.v...), học thuộc lòng tám chín chục trang, đồng thời học luôn cả Kinh Dịch. Mười bốn tuổi học hết Ngũ Kinh, Tứ Thư, sử truyện và sách vở của Bách Gia Chư Tử, mỗi ngày có thể cảm tác mười bài phú mà không cần viết nháp.

Ngọc Rắn Trong Nhân Gian

Người ta thường nói về Nọc Rắn của loài rắn độc, ít ai nói tới Ngọc Rắn. Đây là một câu chuyện có thực ở nước ta. Chúng ta hãy trở về Đèo Hải Vân thời tiền chiến, để nghe một người ở địa phương kể như sau:

Thời đó người ta đang xây con đường xe lửa Xuyên Đông Dương, gọi là Transindochinois. Thật ra là Xuyên Việt, vì nước mình rộng lớn và quan trọng, tiêu biểu cho cả hai nước Lào Miên. Chặng đường thứ nhất: từ Hà Nội tới Vinh, chặng đường thứ hai: từ Vinh tới Huế, chặng thứ ba từ Huế vào Đà Nẵng. Chặng này công phu và khó khăn nhất, vì núi non hiểm trở. Đà Nẵng ngày xưa mang tên Thạc Gián, tên làng xã chính của thị xã. Thạc Gián viết nhầm và đọc nhầm là Tu Gián, vì hai chữ Thạc và Tu viết gần như giống nhau. Từ đó, qua sự vụng về và biên chép của các người biên chép và thông ngôn thời Pháp xâm chiếm nước Nam, mà địa danh viết nhầm là Tu Gián đã trở thành Tourane. Còn địa danh Đà Nẵng thì bắt nguồn từ chữ Đà, một thổ âm có nghĩa là Sông, suối. Ví dụ: Đà Rằng ở Phú Yên, Đà Lạt ở cao nguyên. Suối của bộ lạc Lạt Tiếng Chiêm Thành là Ea (Da), cũng có nghĩa là sông là nước. Ví dụ như Ea Trang (Nha Trang) là con sông tre, con sông trên bờ có mọc nhiều tre (Krưm), chữ Krưm đọc trại thành Trang.

Trở lại vùng Đà Nẵng, ta lấy quốc lộ 1, trèo đèo Hải Vân quan, đi xuống làng An Cư (Lăng Cô), đi ngang qua Truồi, lần tới Phú Bài, Thần Phù, Dạ Lê, Thanh Thủy, An Cựu, rồi tới Huế, đường dài 110 cây số, đúng 1 độ (degré) của Bắc Vĩ tuyến. Đường này quanh co, lúc làm đường xe lửa, phải đục tới ba bốn cái hầm trong núi cao, trong đó có hai cái hầm dài và hiểm trở nhất là Hầm Sen và Hầm Chuối.

Dân địa phương có câu ví ngôn:

Túi thui như chui vào Hầm Sen

Và hai câu hò để than thân trách phận:

Chiều chiều gió thổi Hải Vân
Chim kêu ghềnh đá, gẫm thân em buồn!
Hay:

Chiều hôm dắt mẹ qua đèo,
Chim kêu bên nớ, vượn trèo bên ni!
Thời tiền chiến, có một người cai phu lục lộ, trong lúc đi tuần dọc đường rầy, lúc sắp chui vào Hầm Sen thì chợt thấy lóa mắt bởi nhiều tia ánh sáng. Dụi mắt để nhìn lại lần nữa thì thấy ánh sáng này nhúc nhích và chuyển động. Cai phu liền bật đèn pin rọi thì nhìn thấy luồng ánh sáng đó tỏa ra từ miệng con rắn dài ba thước, đương bò ngang qua đường rầy. Cai phu nhìn kỹ thì thấy con rắn ngậm một hòn ngọc sáng chói. Thấy người và ánh đèn, con rắn liền bò nhanh chui vào Hầm Sen biến mất. Tình cờ một tiều phu già đi ngang qua đây, cai phu kể chuyện lại thì được tiều phu chỉ về cách thức lấy được ngọc rắn. Tiều phu bảo phải bắt một con gà, cột nó vào cái rổ lật ngửa, rồi đặt cái rổ đó lên trên một thau nước và cột chặt gà, rổ và thau nước lại với nhau, làm thế nào thau không bị lật đổ. Xong rồi, cứ việc ngồi rình đừng để cho rắn thần trông thấy.

Cai phu y theo, làm đúng như tiều phu chỉ bảo. Chờ ít lâu, cai phu trông thấy từ miệng hang bí mật, con rắn từ từ bò ra, đánh hơi nhìn tứ phía, rồi bò thẳng tới cái rổ mầu nhiệm, nhờ có con gà bên trên và thau nước phía dưới. Con rắn ngóc cổ, vươn mình phóng tới, cắn mạnh vào cổ con gà, ngậm cứng cho gà ngộp thở, rồi chui vào cánh, quấn mình mấy ngoai, riết chặt thân gà cho đến nhừ tử. Tiếng gà kêu vang nơi rừng thẳm, vang dậy cả Hầm Sen, giữa lúc hàng trăm phu phen đang cong lưng đập đá vá đường, đem mồ hôi nước mắt đổi lấy chén cơm bát cháo! Lúc bấy giờ, mặt trời đã ngả về tây, ánh vàng xuyên qua những đám mây xanh xám, treo lững lờ trên những ngọn cây bao trùm đèo Hải Vân hùng vĩ. Trong cảnh trí thiên nhiên huyền ảo đó, cai phu chăm chú nhìn thấy con rắn, lúc sắp sửa nuốt trọng con gà, đã tự nhiên phun ra viên ngọc vào rổ, rồi viên ngọc đó lọt rổ, rơi xuống thau nước, óng ánh lung linh như có ánh sáng mặt trời chiếu vào. Cai phu lập tức vác gậy đuổi đập con rắn, khiến nó sợ hãi phải bò gấp vào Hầm Sen, chui vào hang biến mất. Và trong lúc hốt hoảng, rắn già đành bỏ lại viên ngọc quý.

Cai phu mừng rỡ như đã trúng số độc đắc, anh ta giải nghệ trở về làng với viên Ngọc Rắn. Viên ngọc này to bằng quả nhãn, màu thanh thiên, trong sáng tuyệt vời và phát quang trong đêm tối. Nó lại còn có công hiệu chữa trị những người bị rắn độc cắn. Chỉ cần áp viên ngọc nơi chỗ rắn cắn là nó hút hết chất độc, hút hết máu đen cho tới khi nào thấy màu hồng chảy ra thì mới rút viên ngọc. Nhờ viên ngọc quý, cai phu đã cứu được không biết bao nhiêu mạng người.

Thân sinh tôi kể chuyện ngọc rắn như sau:

Đông Y Sĩ Trung Quốc - Công Dã Tràng là người đầu tiên đã khám phá tính chất kỳ diệu của Ngọc Rắn. Thuở ấy, y sĩ họ Công có nuôi một cặp rắn hổ. Một hôm thừa cơ rắn đực đi vắng, rắn cái gian dâm với con rắn đực ở gần đó. Tình cờ Công Dã Tràng nhìn thấy, ông tức giận, bèn lấy cây rượt đánh con rắn lăng loàn. Rắn đực đi đâu nãy giờ, vừa bò về trông thấy gia sự đau xót như vậy, bèn ngỏ ý cảm tạ Công Dã Tràng, bằng cách nhả viên ngọc quý trong miệng ra, tặng ông ta và dặn như sau: "Đại nhân hãy giữ kỹ viên ngọc này nó sẽ giúp ông cấp cứu thiên hạ, nếu chẳng may họ bị rắn độc cắn. Đại nhân cứ áp viên ngọc vào nơi thương tích, là nó sẽ hút hết chất độc. Ngọc này không phải rắn nào cũng có, phải có sự tu luyện lâu năm, ngọc mới kết tụ trong miệng. Vì thân hình rắn trơn tru, rắn chỉ biết dấu ngọc vào miệng mà thôi, như thế chẳng ai trông thấy cả. Nhưng mà có một điều bất tiện là: lúc ăn rắn phải nhả viên ngọc ra, ăn xong lại phải ngậm vào, giữ gìn cẩn thận như cái bùa hộ mệnh của rắn thần."

Bây giờ ta phải đánh dấu hỏi: Tại sao Công Dã Tràng đã hiểu thấu ngôn ngữ của loài vật như con rắn? Thì đây là câu trả lời. Theo Lê Quý Đôn viết trong Văn Đài Loại Ngữ, quyển 7, Thư Tịch Loại, gồm 107 điều nói về Kinh Sử Tử Tập, từ thời Xuân Thu Chiến Quốc cho đến các đời Đường Tống Nguyên Minh Thanh, và căn cứ sách Luận Ngữ của Đức Khổng Tử, thì Công Dã Tràng hiểu tiếng chim, nhà nghèo, không có việc làm, không lấy gì để ăn. Một hôm có con chim bay trên mái nhà, kêu rằng: "Cọp ăn thịt dê ở núi Nam Sơn, nên mau ra mà lấy về". Công Dã Tràng nghe lời chim gọi, chạy ra núi Nam Sơn quả nhiên bắt được dê bị cọp ăn; còn thừa. Khi người chủ mất dê đi tìm, theo vết tới nhà trông thấy sừng dê, cho là... Công Dã Tràng ăn trộm dê, bèn kiện lên quan. Vua nước Lỗ hạ lệnh đưa Công Dã Tràng giam vào ngục. Còn Khổng Tử thì một mực kêu oan cho Tràng mà cũng không được.

Ít lâu sau, chim sẻ lại kêu ở nhà ngục rằng: "Người nước Tề xâm lăng bờ cõi, nên mau ra đánh đuổi". Tràng bảo người cai ngục tâu việc ấy lên vua quan. Vua không tin nhưng rồi cũng đâm lo, bèn sai người đi ra biên thùy thám thính thì quả thấy quân Tề ồ ạt kéo tới thật. Vua bèn sai Công Dã Tràng đem quân đi đánh, đuổi được quân Tề. Vua bèn tha cho Công Dã Tràng và phong cho làm Đại Phu. Nhưng ông ta không nhận, vì ông ta nghĩ rằng: "Nhờ loài chim mà được tước lộc là một điều nhục". Tiết tháo vậy thay! Từ đó về sau, không ai học tiếng chim nữa. Nhưng ngày nay, có nhiều nhà khoa học lại bắt đầu học tiếng chim cá, thú vật, để hiểu biết thêm ngôn ngữ của loài vật.

Loài Bò Sát Trong Thần Thoại Việt Nam

Ngoài những con rắn ta thường trông thấy trên đất liền, thường có giống Thuồng Luồng dài năm bảy chục thước, chuyên sống nơi biển lớn, hồ rộng. Hồi đầu thế kỷ, có nhiều thủy thủ đã trông thấy thuồng luồng nơi Vịnh Hạ Long, nơi quần đảo Bạch Long Vĩ. Họ chỉ trông thấy cái đuôi (vĩ) mà cũng đã dài lắm rồi. Lại có người trong thấy con thuồng luồng xuất hiện vài phen nơi hồ Lock Ness, bên xứ Scotland. Con quái vật này (le monstre de Lock Ness) trải qua nhiều thế kỷ, đã làm cho người ta mất khá nhiều thời giờ để rình ngó, nó cũng làm cho văn nhân, sử gia tốn công viết lách tìm tòi.

Riêng về dân tộc chúng ta vốn thuộc loài Giao Chỉ. Danh từ kép nầy có nhiều nghĩa: Ngón chân cái tách ra, lúc đứng xếp chân gần nhau thì thấy hai ngón chân cái giao đầu với nhau. Lại thêm một nghĩa nữa là: Bờ nuớc có thuồng luồng, cá sấu, loại sauriens như dinosaur, plésiosaures, diplocdocus v.v... thời tiền sử sinh sống. Đó là hai ý nghĩa chính, còn nhiều cách giải thích khác nữa không thể nói hết được.

Ngày xưa, giao long và thuồng luồng tranh nhau mà sống khắp sông hồ và duyên hải Nam Hoa và Bắc Việt. Do đó mà Hàn Dũ đời Đường (768-823) và Hàn Thuyên đời Trần Thái Tông (1225-1257) đã được lệnh nhà vua làm bài văn tế cá sấu, để đập đuổi cá sấu đang nhiễu hại dân chài lưới, đi ra khỏi sông Phú Lương, tức là sông Hồng Hà ngày nay. Theo nhà văn Roger Caillois, con rồng phát xuất từ con Giao Long mà ông dịch là Alligator, một giống bò sát (reptile) có nhiều liên hệ với nước mây mưa gió. Ắt hẳn con Giao Long là vật tổ của người Giao Chỉ, một sắc dân sống miền duyên hải, chuyên sống về nghề chài lưới và có tục lệ xâm mình, vẽ hình rồng rắn, khiến cho giống thuồng luồng, cá sấu phải nể nang khiếp sợ mà tránh né, hoặc được xem như là đồng loại để đừng giết hại lẫn nhau.

Tục lệ xâm mình này đã có từ ngàn xưa vì sách Sử Ký của Tư Mã Thiên đời Hán đã từng ghi "Tiễn phát, văn thân, thác ti, tả nhậm": Cắt tóc ngắn, vẽ mình, vòng tay (cung kính), cài nút áo phía trái. Ấy là bốn đặc tính của dân Việt Giao Chỉ. Tục lệ đã chấm dứt đời vua Trần Anh Tông (1293-1314) anh ruột Công chúa Huyền Trân, và cũng là người đầu tiên đã dám cãi lệnh vua cha, nhất định không chịu xâm mình. Đó là một ông vua có óc tiến bộ, đã dám quên gốc chài lưới của tổ tiên, để mạnh dạn tiến vào thời kỳ nông nghiệp phồn thịnh của dân ta. Hơn nữa, việc cống hiến ngọc trai, san hô (coral) cho vua Tàu không còn ràng buộcchặt chẽ như xưa, và từ đó dân chài của ta không còn phải lặn lội dưới biển sâu để mò trai kiếm ngọc.

Xem như trên, các loài rồng rắn, thuồng luồng, cá sấu có nhiều điểm tương đồng, mà cũng có nhiều điểm dị biệt: Rồng có bốn chân, không có cánh mà vẫn bay được lên tận mây xanh, Thuồng luồng không chân và dài như con chình khổng lồ, có thể lật thuyền như chơi; Cá sấu da dầy, răng như cưa, mắt trợn... trông thấy mà kinh; Rắn không chân, bò sát đất, nhưng khéo tu thì có ngọc! Hầu hết rồng rắn dị hình, dị tướng, đều mang nặng tính chất kỳ bí và thần thoại, do óc quan sát tinh vi và trí tưởng phong phú của loài người.

________
Ghi chú:
(1) Cũng có giả thuyết: Người vợ thứ tư của Nguyễn Trãi, tên là Phạm Thị Mận, đang đi chợ, nghe tin dữ, vội vã bồng con trai, trốn sang nước Bồn Man (Lào), về sau lại trở về dưới thời Vua Lê Thánh Tông. Người con trai tên là Anh Vũ, học giỏi, đỗ đạt làm quan to, được vua cử đi sứ sang Trung Quốc. Lúc đi thuyền trên hồ Động Đình thì bị một con thuồng luồng ví chận, muốn làm lật thuyền. Anh Vũ biết con rắn này là hiện thân của Thị Lộ, bèn cầm dao nhảy xuống hồ đánh và giết được rắn, máu trồi lên đỏ cả hồ, rồi Anh Vũ cũng biến đi đâu mất! Từ đó về sau thì hồ êm sóng lặng, dân chúng đi lại bình an. 

Thứ Ba, 6 tháng 11, 2012

Nước Mỹ bầu tổng thống

Nước Mỹ bầu tổng thống

_MSC_CLICK_TO_OPEN_IMAGE


Nước Mỹ xôn xao tổng thống bầu
Thiên tai thảm họa dẫu còn đau
Phập phồng tiền nhiệm ngai vương ngóng
Hồi hộp ứng viên bệ đế chầu

Thế giới nén lòng chờ bạn mới
Hoa Kỳ nín thở đón công hầu
Chọn ai ai chọn hiền nhân chọn
Chèo lái thuyền đời vượt bể dâu!

6.11.2012/Trần Kim Lan
 

Thứ Bảy, 3 tháng 11, 2012

Đông sang





















Đông sang

(Họa bài: Mùa đông – TG: Hà Đình Chung)

Xào xạc đông sang  lạnh thấu da
Thu tàn lá đỏ lá xanh pha
Cành thông đón nắng đâm chồi nụ
Khóm cúc phơi sương nảy lộc hoa
Réo rắt cung đàn nơi ngõ vắng
Nỉ non tiếng cuốc phía trời xa
Gió rung nhạc khúc chênh chao nhớ
Thơ thẩn mình ta với bóng ta.

1.11.2012/Trần Kim Lan



























 


Mùa đông


Đêm dài dằng dặc rét cào da
Ngày ngắn tấc gang nắng nhạt pha
Mai trắng dầm sương cành rủ lá
Cúc gầy giãi gió nhánh đâm hoa 
Nhớ em ấm lạnh nơi muôn dặm
Thương kẻ vui buồn nẻo vạn xa 
Cánh nhạn mờ dần trong khoảnh khắc
Phố buồn da diết ... lại mình ta

1.11.2012/Hà Đình Chung

Thứ Sáu, 26 tháng 10, 2012

Lời tựa tập thơ: "Khúc hát yêu thương" của Trần Kim Lan (Tác giả: Nguyễn Trọng Tạo)

Lời tựa tập thơ: "Khúc hát yêu thương" của Trần Kim Lan (Tác giả: Nguyễn Trọng Tạo)

Lời tựa


(Ảnh bìa: Nguyễn Trọng Tạo)


_MSC_CLICK_TO_OPEN_IMAGE



Khi đọc tập thơ “Khúc hát yêu thương” của Trần Kim Lan, tôi chợt nhớ câu thơ của thi sĩ Xuân Diệu: “Yêu và thương, hai đợt sóng dâng trào”. Yêu thương thì ta vẫn thường nói, và ai cũng hiểu, đó là tình cảm của con người với con người, với thiên nhiên và vạn vật quanh ta. Nhưng khi nói “yêu và thương” là tác giả muốn nhấn mạnh các cấp độ tình cảm của mình như những đợt sóng của lòng người; mà đã là sóng thì cùng làm nên sông dài, biển lớn, đó là sông-dài-biển-lớn-yêu-thương!



Trần Kim Lan là một cô giáo, rồi biển đời xô dạt, chị trở thành “người xa xứ” gần nửa đời người. Quê hương và tình yêu luôn réo gọi trong tâm hồn lãng mạn và bay bổng của chị. Và như không có gì chia sẻ với chị bằng việc làm ra những bài thơ để giải tỏa lòng mình. 1200 bài thơ đã được viết ra trong những tháng năm dài xa xứ như một thiên bẩm hơn là lao động chữ. Cảm xúc của chị lúc nào cũng tuôn trào cùng ngòi bút. Tôi có cảm giác mỗi bài thơ được viết ra, chị không cần biết nó là thơ hay không, nhưng điều mà chị biết chắc chắn, đó là tình cảm, là tâm trạng, là suy nghĩ của chính mình với quê hương và tình yêu.

Thơ Trần Kim Lan giản dị như tiếng nói, như hơi thở thường ngày của chị. Có thể nói, chị là người có tâm hồn quá nhạy cảm trước mỗi biến động của đời sống, nên yêu, thương, vui, buồn, cười, khóc luôn vang vọng trong thơ. Cũng có thể nói, chị vừa mạnh mẽ vừa yếu đuối nên mới tạo ra một hồn thơ như thế, một hồn thơ đa đoan trắc ẩn, lại luôn gần gũi, dịu dàng. Câu thơ “Nước mắt nhiều hơn nước mưa” như một tự bạch về tâm hồn trong sáng và yếu đuối của người thơ.

Có lẽ cũng do tâm hồn quá nhạy cảm, nên chị làm thơ thật nhiều và thật dễ dàng. Chị có thật nhiều ký ức để mỗi khi nhớ về lại rưng rưng cảm động. Chị cũng có thật nhiều tưởng tượng để viết ra những cảnh, những người mình chưa bao giờ gặp gỡ. Chị cũng có một vốn thơ từng đọc/học được để dễ dàng thao tác với nhiều thể thơ truyền thống và tự do quen thuộc một cách nhuần nhuyễn. Đây là thể song thất lục bát, một sự kết hợp rất Việt trong thơ cổ mà thời nay còn ít người làm theo, thỉnh thoảng xuất hiện trong thơ chị:

Đời ơi hỡi sao mang tình đến
Khi tình là ngọn nến, lắt leo
Một cơn gió thổi, tắt vèo
Lửa tình dù bén, cũng theo gió ngàn.

Những câu thơ đọc lên khiến ta nhớ thời “chinh phụ” xa xưa.

Chị cũng viết nhiều bài đường luật và thất ngôn bát cú. Hai loại thơ này đều tám câu bảy chữ, nhưng đường luật yêu cầu cao ở các vế đối phải chuẩn. Vậy mà chị đã viết hàng trăm bài thơ theo thể này với một giọng thơ giàu khí chất, mà lại tự nhiên đến lạ. Ví như bài Canh bạc dưới đây:

Canh bài lừa đảo có gì đâu
Dính phải than ôi chuốc lấy sầu
Khi thắng càng gồng càng tụt dốc
Lúc thua dẫu gắng lại rơi sâu
Cờ gian kim cổ ai không biết
Bạc lận xưa nay kẻ vẫn cầu
Ghán vợ mất con đời rách nát
Thân tàn ma dại sống bao lâu?

Lại có những bài thơ chơi ghép các chữ đầu dòng thành một câu thơ có nghĩa theo kiểu “chơi chữ”, “thả thơ” của người xưa:

Đêm thắp lửa bừng ánh nguyệt quê
Xuân sang nhộn nhịp khách đi về
Đâu hay phố thị thương triền núi
Dễ biết miệt vườn chán nẻo khê
Cầm vọng ngân nga xuyên thẳm thẳm
Lòng vang thánh thót tỏa huê huê
Được vui trảy hội thi ca họa
Chăng hỡi tao nhân nhớ hẹn thề?

Thì ra đọc bài “Đêm xuân” này, người đọc còn có thêm một câu thơ t
ám chữ gửi gắm đầy ý tứ: “Đêm Xuân Đâu Dễ Cầm Lòng Được Chăng”.

Đọc những lối thơ như thế, lại gặp những từ cổ mà chắc thời nay nhiều người Việt đã quên, ta không thể không ngạc nhiên về chị, một phụ nữ Việt sống ở Đức thời hiện đại lại đeo đẳng hồn dân tộc xa xưa đến vậy.

***

Ấy là vì Trần Kim Lan đeo đẳng một hồn quê. Một hồn quê mộc mạc, chân chất từ thuở ấu thơ. Cái tuổi thơ quê như màu bùn nhuộm chín vải sồi, như màu mực viết vào giấy trắng… thật khó phai nhòa. Hồn quê như đã nhuộm sồng trái tim thiếu nữ. Hồn quê như tình yêu đầu đời nao nao ký ức. Nó theo chị lên Thủ Đô, rồi nó đi cùng chị sang tận trời Âu. Quê với chị như hình với bóng, như bóng với hình. Đôi khi không phân biệt được chị là hình hay quê là hình, chị là bóng hay quê là bóng. Quê với chị khi là cảnh sắc dân giã:

Làng tôi xanh ngát bóng cây
Lũy tre thấp thoáng hây hây gió ngàn
Sáo diều réo rắt ngân vang
Cánh cò chấp chới ríu ran chim trời.

Làng tôi rộn rã tiếng cười
Điệu hò sông Mã vọng lời thương yêu
Thuyền bè xuôi ngược dập dìu
Dòng sông bến nước chiều chiều đông vui.

Quê với chị đôi khi là nỗi lòng người xa xứ:

Mùa xuân đang đến nơi nơi
“Xuân đầu xa xứ, buồn ơi là buồn”
Lệ đâu bỗng chảy trào tuôn
“Sao ta lại phải tha phương, xứ người?”

Và quê với chị là hội hè, là nếp sống, là đạo lý ở đời. Ta gặp trong thơ chị không chỉ một miền quê riêng biệt, mà cùng những con chữ hành hương khắp mọi miền đất nước. Từ sông Mã cao vút điệu hò đến với hội Lim vương vấn câu Quan Họ. Từ xứ Huế mộng mơ đến Đà Lạt ngàn thông lãng mạn. Từ thành phố hoa phượng đỏ, hay di sản thế giới Vịnh Hạ Long đến đất Tổ Hùng Vương xuân về trẩy hội. Từ Hà Nội ngàn năm văn Hiến đến Sài Gòn hòn ngọc Viễn đông… Đâu cảnh cũng đẹp, đâu người cũng xinh, và đâu đâu cũng thương khó, chân tình. Với chị, hồn quê luôn nức nở, sâu xa:

Nước non, non nước, lòng vời vợi
Thăm thẳm trời quê tiếng quốc than.

Đôi lúc đọc thơ Trần Kim Lan, tôi như quên đi chữ nghĩa mà chỉ nghĩ về một tâm hồn. Quả đúng thế. Những câu chuyện tình trong thơ chị cứ làm tôi thương cảm vô cùng. Nếu chữ nghĩa có vụng về đôi chút, thì cái câu chuyện tình ấy nó cứ hiện lên trước mắt ta, bởi nó thật, nó mộng, nó buồn và lắm nỗi đắng cay. Đó là câu chuyện tình có tên “Tình yêu theo suốt đời em”. Một câu chuyện tình bất hạnh từ ngày em tiễn người yêu đi xa, và khi anh trở lại đã biến thành một “người điên” bởi cuộc đời ngang trái. Những câu thơ khởi đầu bằng nhức buốt tận đáy lòng:

Trời ơi! Có thể nào tin
Ngày tiễn anh ra đi, lại là ngày ly biệt
Nụ hôn vội vã trên tầu, lại là mầm gieo xa cách
Tiếng còi tầu giục giã chia tay, lại là tiếng còi báo hiệu đau thương
Anh ơi! Có thể nào tin
“Bài thơ hạnh phúc”, em dành cho ngày cưới, chưa viết nên lời, đã mỗi chữ, mỗi phương...

Câu chuyện tình được tái hiện trong lời thơ tự sự, để cuối cùng được dẫn đến một kết cục bi thảm:

Anh trở về
Nuốt đắng, ngậm cay
Vì họ đã biến anh
“Đẹp trai, tài giỏi”
Thành một người điên
(Ai nghe người điên?)

Câu “Ai nghe người điên?” nghe xót đắng, nghẹn ngào. Đó là cái kết cục không sao giải thích được, đó phải chăng là “định mệnh” của mối tình tan nát? Và cái mối tình tan nát ấy cứ đeo đuổi mãi trong thơ chị.

Lá xanh mang nhung nhớ
Vàng non gợi thương sầu
Hoe hoe mầu lỡ hẹn
Úa vàng khi buồn nhau

Cánh lá kia mắc cạn
Sắc vàng ươm thu rơi
Mình xa nhau, xa mãi
Mùa thu xẻ thành đôi

Có thể tôi chưa hình dung được “hoe hoe mầu lỡ hẹn” là cái mầu gì, nhưng chắc chắn đó là cái mầu được tác giả nhìn qua nước mắt. Cho đến gần đây, hình ảnh người yêu thời trẻ vẫn còn khắc khoải trong “Chiều buồn” một mình dọc những phố cũ, đường xưa:

Chiều hoàng hôn buồn, lang thang trên phố
Mưa lất phất bay, hay lệ trào rơi
Mỗi bước chân qua, nghe lòng thổn thức
Có thấu hay chăng hỡi người yêu ơi?

***

Tôi không nghĩ Trần Kim Lan là một “nhà thơ chuyên nghiệp”, dù chị làm nhiều thơ, và thơ chị nhiều bài trôi chảy với nhịp điệu truyền thống mộc mạc, chân thành, và lắm lúc chạm đến những triết lý về đạo đức và văn hóa sống. Nhưng thưởng thức cái khối lượng thơ trên cả nghìn bài chị gửi, tôi cũng kịp nhận ra một tâm hồn giàu yêu thương và trắc ẩn. Tâm hồn cần được giãi bày, chia sẻ. Bởi chính chị cũng luôn tâm niệm sẻ chia với kẻ sĩ, văn nhân, những số phận ít may mắn trong cuộc sống:

Đời người là những thương đau
Văn nhân, kẻ sĩ… khác đâu phận Kiều

Sự sẻ chia ấy, với người mà cũng là với mình. Vì thế mà ta thấy thơ chị thật gần, thật tâm tình, đúng như ước muốn sẻ chia của chị:

Thơ tôi rải khắp bốn phương
Kiếp nghèo, khốn khổ, buồn thương đời này.
Thơ tôi thả khắp trời mây
Có ai nhặt được, ai say thơ mình
Ai cho tôi một chút tình
Một lời thương mến, tự tim chân thành?

Và những lời tôi viết về chị, cũng chỉ xin được là những lời sẻ chia “tự tim chân thành” cùng người thơ xa xứ.

Hà Nội, Thu, 2012

Nguyễn Trọng Tạo


Thay lời cảm ơn
(Gửi người thiết kế bìa: Nguyễn Trọng Taọ)
_MSC_CLICK_TO_OPEN_IMAGE


“Khúc hát yêu thương” cầm tay
Sao cay khóe mắt sao say say lòng
Nhờ mây gửi gió cành hồng
Tặng “người thiết kế” - cảm ơn thay lời!

16.11.2012/Trần Kim Lan


_MSC_CLICK_TO_OPEN_IMAGE

(Ghi chú: Tập thơ Khúc hát yêu thương - Trần Kim Lan (chọn lọc, ba trong một: Khúc hát yêu thương (100 bài) - Trăn trở (129 bài) - Tình người viễn xứ (thơ Đường luật - 120 bài) - Phụ lục thơ phổ nhạc (21 bài thơ và nhạc) - sách dày 500 trang, bìa cứng.
Nhà xuất bản Hội nhà văn - Hà Nội - Phát hành 9-2012.
Bạn đọc yêu thơ có thể tìm đọc tại các thư viện và các trường đại học, cao đẳng trong toàn quốc.)

  

Thứ Bảy, 20 tháng 10, 2012

Tình khúc Hạ Long


Tình khúc Hạ Long
(Thay lời cảm ơn các Nhạc sĩ đã phổ thơ Trần Kim Lan)



_MSC_CLICK_TO_OPEN_IMAGE











(Bìa CD "Rồi một ngày" hình bìa sau do nhạc sĩ Ngọc Anh 
thiết kế tặng. Hình bìa trước do Trần Kim Lan "thử nghiệm thiết kế" 
sau khi nhờ cài photoshop và "học lỏm" được từ 
nhà nghề Mai Sĩ Phát để "mời (bắt cóc)" các nhạc sĩ 
ghé thăm Hạ Long - Chút tình kỷ niệm lưu dấu thời gian...)

Xem tại đây:
Rồi một ngày (Play list)

Rồi một ngày sẽ đi xa
Tình ca còn đó thiết tha mặn nồng
Lời thương lời nhớ mênh mông
Bềnh bồng sóng vỗ bềnh bồng dáng ai.

Còn đây một thuở không phai
Còn đây biển biếc hình hài lãng du
Bổng trầm nhạc khúc thiên thu
Rì rào sóng vỗ khúc ru ân tình.

Thuyền sao nắng tỏa lung linh
Hạ Long còn đó dấu in đời người
Tình ca vi vút dòng đời
Nước non non nước còn lời nước non…

19.10.2012/Trần Kim Lan

Chủ Nhật, 14 tháng 10, 2012

Làm gì cho tổ quốc hôm nay?


























Làm gì cho tổ quốc hôm nay?

Làm gì cho tổ quốc hôm nay
Câu hỏi trở trăn thế cuộc này
Quân tử mấy đời ai bó gối
Anh hùng đâu thuở kẻ khoanh tay
Thương dân lãnh hải đồng tâm giữ
Yêu nước giang sơn nhất trí xây
Công lý nhân quyền đường hướng đạo
Cường hào ác bá ắt lung lay.

10.10.2012/Trần Kim Lan

 

Thứ Tư, 10 tháng 10, 2012

Mỗi khi mùa thu về

Mỗi khi mùa thu về
_MSC_CLICK_TO_OPEN_IMAGE


Xao xác lá thu rơi
Nghe thu về bồi hồi
Nghe tiếng chim gọi bạn
Chạnh lòng cánh chim côi.

Nửa đời người tha phương
Thăm thẳm biển trùng dương
Nghe thu về thao thức
Hồn dạt bến quê hương.

Mùa thu ơi có nghe
Mỗi khi mùa thu về
Nghe tiếng lòng réo rắt
Dìu dặt khúc nhớ quê!

10.10.1991/10.10.2012/Trần Kim Lan

Thứ Ba, 9 tháng 10, 2012

Chùm Thơ: THĂNG LONG - HÀ NỘI NGÀN NĂM (2)

Chùm Thơ: THĂNG LONG - HÀ NỘI NGÀN NĂM (2)

Xem tại đây:

Chùm Thơ: THĂNG LONG - HÀ NỘI NGÀN NĂM (1)
Video: Thưởng thức "đại tiệc ánh sáng" trên sân Mỹ Đình 

1-CON ĐƯỜNG GỐM SỨ

Con đường gốm sứ Bát Tràng
Thủ công tinh xảo Tràng An ngàn đời
Thăng trầm, sướng khổ, đổi dời
Bát Tràng gốm sứ thế thời chẳng thay…



Open in new window
Open in new window

Ngàn xưa truyền đến đời nay
Nghệ nhân bao thuở về đây tựu tề
Rồng xưa thời Lý hiện về
Thánh Gióng Phù Đổng gióng tre đuổi thù!

Open in new window

Trống Đồng vọng tiếng thiên thu
Ngàn xưa văn hiến khúc ru Lạc Hồng
Bà Trưng Bà Triệu oai phong
Cưỡi voi ra trận dẹp xong giặc ngoài…

Open in new window

Cánh cò, cánh vạc… trải dài
Hoa văn ngũ sắc tượng đài uy nghi
Sông Hồng sóng vỗ thầm thì
B
ốn mùa non nước khắc ghi phượng rồng…

Bát Tràng – Hà Nội – Thăng Long
Nối liền một dải mênh mông ân tình
Ngàn năm tài nghệ kết tinh
“Hà Nội thành phố hòa bình” xứng danh!

(10-10-1010/10-10-2010 /Trần Kim Lan)


2-LENG KENG XE ĐIỆN

Open in new window

Leng keng! Xe điện, leng keng!
Xe vòng quanh khắp đường quen Hà thành
Tiếng chuông giục giã: nhanh! Nhanh!
Khiến em hối hả, khiến anh vội vàng!

Xe chạy dọc, xe chạy ngang
Đô thành Hà Nội, rộn ràng chuông kêu
Hà thành cổ kính, phong rêu
Hồ Gươm xe tới, chợ chiều Đồng Xuân

Cầu Giấy, Yên Phụ, Hà Đông…
Leng keng! Chuông gọi, người mong, người chờ
Giờ đây… xe điện là mơ
Ô tô, xe máy… bờ hồ chen nhau

Nghe lòng… ước muốn thẳm sâu
“Leng keng… xe điện… từ đâu… lại về!“

(13-5-2010/Trần Kim Lan)


3-TỰ HÀO VIỆT NAM

Âu Cơ gặp Lạc Long Quân
Nên duyên kỳ ngộ, hợp quần nước Nam
Năm mươi con lên non ngàn
Năm mươi ở lại đồng bằng lập thân

Trải bao thế cuộc thăng trầm
Nước Nam luôn xứng con dân Tiên Rồng!
Bắc triều phong kiến, Nguyên Mông
Thực dân, đế quốc... ngoại xâm đẩy lùi

Đồng cam, cộng khổ sướng, vui
Từ Nam ra Bắc, ngược xuôi mọi vùng
Anh hùng, hào kiệt lẫy lừng
Vua Hùng dựng nước, dân chung giữ gìn...

Bà Trưng, bà Triệu oai linh
Khiến cho khiếp đảm, thất kinh Bắc triều!
Khiến cho nhà Hán liêu xiêu
Bạch Đằng thắng trận, thủy triều mưu sâu

Ngô Quyền trí dũng công đầu
Nước Nam thoát cảnh lệ chầu ngàn năm!
Nhờ Trần Hưng Đạo uyên thâm
Nguyên Mông ba lượt lui quân ê chề!

Mười năm mưa nắng dãi dề
Lê Lợi, Nguyễn Trãi... não nề nhà Minh!
Quang Trung thần tốc dấy binh
Quân Thanh tan tác... rơi tim tướng Tầu!

Điện Biên lừng lẫy địa cầu
Thực dân khốn đốn... bảo nhau hạ cờ!
Trường Sơn xẻ dọc bến bờ
Bắc Nam một dải câu hò Hiền Lương!

Yên bình cấy lúa, ruộng vườn
Dựng xây đất nước quê hương vững bền!
Từng ngày nhịp sống đi lên
Nhà cao,cửa rộng, ấm êm trong, ngoài...

Bốn ngàn năm, chặng đường dài
Giữ gìn văn hiến, tương lai huy hoàng
Thăng Long thấp thoáng rồng vàng
Chở che dân nước... vượt đàng khổ đau

Truyện Kiều ru vọng mai sau
Nguyễn Du nâng cánh nhịp cầu thế gian…
Việt Nam dòng dõi Hồng Bàng
Muôn đời con cháu ca vang: Tự hào!

(24-4-2010/Trần Kim Lan)


4-HƯƠNG TÌNH THU ẤY
(Tha thiết, tình cảm)

Sánh vai, đi giữa mùa Thu
Trăng khuya bàng bạc, sương mù tỏa lan
Tháp Rùa in dấu ngàn năm
Rùa thiêng, kiếm báu, trời Nam giữ gìn…

Lung linh sóng nước, hình mình
Mắt soi tìm mắt, dõi tìm yêu thương.
Hương sữa lan tỏa, vương vương
Hương tình quấn quýt Hồ Gươm, chẳng rời

Dẫu rằng, tình đã xa vời
Hương tình, Thu ấy, xa xôi… vẫn nồng…

(22-8-2009/Trần Kim Lan)


5-THẦM THÌ MÙA THU

Nghiêng nghiêng liễu soi mình
Hồ Gươm sáng lung linh
Trăng sao chìm đáy nước
Xốn xang... hai bóng hình!

Chuông điện leng keng reo
Rùa ngơ ngác dõi theo
Mây trời, người... lấp loáng
Lá thu rơi vèo vèo

Anh nhìn em nồng nàn
Thầm thì mùa thu sang
Lời anh nồng hương sữa
Gió khẽ vờn mơn man...

Đời đẹp biết bao nhiêu
Có phải chăng tình yêu
Mang bao điều kỳ diệu
Ngây ngất chốn bồng liêu?!

(21-4-2010/Trần kim Lan)


6-TÔI YÊU HÀ NỘI

Tôi yêu Hà Nội – Thăng Long
Ngàn năm văn hiến thành rồng hiển linh
Thành Đô nhịp đập trái tim
Nén vui chia sẻ ân tình nước non…

Miền Trung ngập lụt thảm thương
Pháo hoa ngừng bắn, tiền còn giúp dân
Dành vui đọng tự ngàn năm
Chắt chiu ân nghĩa tình thân giống nòi…

Thăng Long – Hà Nội ngàn đời
Tinh hoa tỏa sáng để người trông theo…

(8-10-2010/Trần Kim Lan)

7-LỜI RU NGÀN NĂM

Con ngoan cất tiếng làm người
Thăng Long – Hà Nội tuổi đời vừa sang
Ầu ơ... vọng tiếng ngàn năm
Đinh – Lý - Trần – Lê… vẻ vang, tự hào!

Trải bao chìm nổi lao đao
Thăng Long... Hà Nội bước vào sử xanh
Con ơi! Bước tiếp cha anh
Giỏi ngoan, khôn lớn để thành công dân

Làm người luôn nhớ công tâm
Tín trung, nhân nghĩa… chuyên cần sớm hôm
Xứng danh dòng dõi Lạc Hồng
Dựng xây đất nước, non sông vững bền…

Nghe không con, tiếng pháo rền
Đất trời tỏa sáng, bừng lên mọi vùng
Thăng Long ngàn tuổi vui mừng
Oa, oa… con khóc vui cùng nước non

Ru con… ngàn năm Thăng Long…

(10-10-1010/Nước Đức Chúa Nhật ngày 10-10-2010)

TIẾNG VỌNG NGÀN XƯA

Hồ Gươm huyền ảo lung linh
Pháo hoa rực sáng, muôn tim lửa hừng
Thăng Long – Hà Nội tưng bừng
Ngàn năm thành cổ vui mừng, mừng vui…

Đồng cam chia ngọt, sẻ bùì
Đắng cay, chìm nổi, ngậm ngùi, thăng hoa…
Ngàn xưa vọng tiếng ông cha
Lạc Hồng dòng dõi chói lòa sử xanh!

Lẫy lừng chiến tích giao tranh
Tiếng gươm, vó ngựa tung hoành trời Nam
Khiến cho lớp lớp ngoại xâm
Hãi hùng, tan tác chẳng lần lối ra…

Ngàn năm âm hưởng vang xa
Thăng Long – Hà Nội hùng ca: tự hào!

Nước Đức 10-10-2010
Trần Kim Lan 

Thứ Bảy, 6 tháng 10, 2012

Đức Chúa Trời hiện đến cùng Giô-suê, phép lạ rẽ nước

KTCƯ: 43-Đức Chúa Trời hiện đến cùng Giô-suê, 
phép lạ rẽ nước


_MSC_CLICK_TO_OPEN_IMAGE


Đức Chúa Trời đã hiện đến cùng Giô-sê
Ngài phán: “Mô-sê, tôi tớ ta, đã chết
Hãy cùng dân sự mau tập hợp lại
Vượt sông Giô-đan, vào xứ Ta ban!



Ta ở cùng ngươi, chỉ cần vững lòng
Hãy giữ mọi điều luật Ta truyền phán
Thì ngươi sẽ được phước và may mắn
Vì Đức Chúa Trời dõi bước ngươi đi!”

Vâng lời Chúa, Giô-sê ban lệnh tức thì
“Truyền cho dân sự sắm sẵn thực vật
Chỉ ba ngày nữa, sẽ đánh chiếm đất
Mà Đức Chúa Trời đã hứa ban cho”

Giô-sê sai thám tử đi trước thăm dò
Kỹ nữ Ra-kháp tiếp, giải cứu thám tử
Vì danh Đức Chúa Trời vang khắp xứ
Kỹ nữ được thám tử hứa buông tha.

Dân sự Ít-ra-en đi đến bờ sông Giô-đan
“Hòm Giao ước” đi trước, y lời Chúa
Chân người khiêng hòm vừa bị nước ướt
Nước rẽ ra, Ít-ra-en qua sông bình yên.

Họ đi qua sông như trên đất liền
Như ngày nào Chúa rẽ nước biển Đỏ
Con cháu Ít-ra-en lại chứng kiến phép lạ
Chính Giô-sê thuật lời Chúa, trước khi qua sông.

Giô-sê cho mười hai người lấy đá theo
Như Chúa truyền: “Đá sông để kỷ niệm”
Để muôn đời con cháu Ít-ra-en nhớ mãi
“Hòm Giao ước đi trước, nước rẽ đôi”

Dân sự qua hết, nước lấp tức thời
Họ rất kinh hoàng trước sự mắt thấy
Nhờ phép lạ Chúa, Giô-sê được kính trọng
Như họ đã kính trọng Mô-sê ngày nào.

Theo ý Chúa, Giô-sê làm phép cắt bì
Cho những người sinh ra trong sa mạc
Để giữ Giao ước Chúa cùng tổ phụ
Cũng tại đây, họ giữ lễ Vượt qua.

Họ cùng tạ ơn, vinh danh Đức Chúa Trời
Rồi tới Giê-ri-khô, chiếm đánh vùng đất mới
Thiên sứ Chúa hiện đến, Giô-sê vấn hỏi
“Đất Thánh, tháo giày!” Thiên sứ trả lời.

(Dựa theo sách của Giô-sê/1-5/KTCƯ)

12-11-2002/Trần Kim Lan

 

Thứ Ba, 2 tháng 10, 2012

Thiên đường hạ giới

Thiên đường hạ giới

_MSC_CLICK_TO_OPEN_IMAGE
Xem tại đây:
Bức tường ký ức (Thơ TKL)


Đông Berlin – Tây Berlin – chia hai nước Đức
Ngăn cách đường biên là một bức tường
Chia ý thức hệ hai ngả hai phương
Bên này cộng sản, bên kia tư bản.


Mấy chục năm trường nhớ thương đằng đẵng
Cha ngóng chờ con, vợ ngóng chờ chồng
Héo hắt tâm can thổn thức hoài trông
Trông ngày non sông trở về một mối.

Ơn Trời quê hương có ngày thay đổi
Tường ngăn sụp đổ, chẳng nhỏ máu đào
Đông Berlin – Tây Berlin liền dải khát khao
Nước Đức tự do – Thiên đường hạ giới!

3.10.2012/Trần Kim Lan