" Đâu Cũng nh - Nh v quê hương - Ci ngun dân tc - M

y ai mà quên?" (TKL)

Tìm kiếm Blog này

Thứ Sáu, 21 tháng 8, 2015

“Chứng khoán Đại học“

“Chứng khoán Đại học“












“Chứng khoán Đại học“ lên sàn
Hồ sơ "nộp – rút" quáng quàng khắp nơi
Thí sinh, cha mẹ tơi bời
Biết đâu điểm chuẩn, biết đời về đâu?

Trường “ngon“ điểm nóng hàng đầu
Nhà nhà lo lắng trực chầu ngóng tin
“Chứng khoán Đại học“ lên hình
Khiến cho sĩ tử, gia đình lao đao…

Nhìn ra thế giới xem nào
Người ta cũng học mà sao nhẹ nhàng
“Chứng khoán Đại học“ Việt Nam
Thí sinh bấn loạn, cha than, mẹ buồn

Đường học nghĩ đến mà thương…

21.8.2015/Trần Kim Lan



















Clip: Bóng thời gian (Trần Kim Lan tự biên tự diễn)



1-Bóng thời gian







Đời người, rồi sẽ trôi qua
Tình xưa, nghĩa cũ, chẳng nhòa tháng năm

Cuộc đời, là những thăng, trầm
Buồn vui, hạnh phúc, âm thầm đắng cay

Làm sao quên được đời này
Mênh mông là nhớ, đêm ngày là thương…

Chắt chiu từng mảnh đời thường
Bóng thời gian, mãi còn vương lòng người…

24-8-2009/Trần Kim Lan

(Bài thơ mở đầu tập thơ: Bóng thời gian (thơ Trần Kim Lan-138 bài thơ lục bát, nhà xuất bản Văn học Hà Nội – Qúy IV-2010

Thứ Tư, 19 tháng 8, 2015

Katarina Witt in Carmen On Ice (Act 1)

Kỷ niệm khó quên (Tùy bút)


Kỷ niệm khó quên

 Gần tới ngày kỷ niệm Quốc khánh 2.9.1945 và cũng là ngày mất của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi bỗng nhớ lại kỷ niệm khó quên…

Đó là một buổi tối khoảng năm 1963, tôi không nhớ chính xác ngày tháng, chỉ nhớ đó là một buổi tối ngày hè… Tôi vừa từ nhà cô bạn học nhóm cùng phố trở về nhà, thì tôi chợt thấy Bác Hồ đang đi nhanh vào một nhà, mà tôi biết, đó là một gia đình yêu nước vừa từ Tân đảo về : “Ôi đúng Bác Hồ rồi! Dáng người gày gò, nhanh nhẹn…!“ Tôi biết gia đình này, vì người thân của tôi là người đã thu xếp nhà ở cho họ…  Nghĩ vậy và tôi chợt kêu lên:
- Bác Hồ!
Tiếng kêu của tôi làm Bác Hồ chú ý, mặc dù tôi không dám kêu to. Lúc đó phố xá không hề có ai đi bộ ngoài đường, trừ tôi. Người đưa tay lên miệng, ý muốn nói: “Đừng kêu to! Hãy im lặng!“. Tôi hoảng hốt và im re không dám nói tiếng gì nữa! Nhưng tôi cũng không đi ngay mà đứng chờ xem Người ra về…
Bác chỉ vào đó thời gian rất ngắn và ra về rất nhanh… Bác vẫy tay chào tôi và tôi chỉ còn biết đứng như trời trồng, im lặng, không dám ho he gì! Thật qúa bất ngờ, tôi đã nhìn thấy Bác Hồ thật gần, thật rõ ràng, bằng xương bằng thịt, chứ không phải qua hình ảnh nữa! Bác đi rồi mà tôi vẫn còn đứng im một chỗ, cảm thấy vẫn còn run vì qúa bất ngờ…
 Bác Hồ luôn là “thần tượng“ trong trái tim của mọi người dân ngoài Bắc và tuổi trẻ chúng tôi thời ấy! Vì thế, được nhìn thấy Người thật gần, cả hình dáng, ánh mắt và nụ cười, được Người ra hiệu im lặng… thật là một vinh hạnh đối với tuổi niên thiếu của tôi.
Rồi tin Bác Hồ đã qua đời… Những ngày Bác mất, Hà Nội mưa tầm tã hàng tuần liền. C miền Bắc khóc thương Người. Tôi cũng không ngoại lệ. Tôi nhớ, ngày ấy, tôi vừa tốt nghiệp phổ thông cấp III, chẳng thuộc đoàn thể nào, để có thể đi viếng và dự lễ tang Bác. Tôi cùng cô bạn cùng phố rủ nhau đi đến gần khu vực quảng trường Ba Đình để dự lễ tang truy điệu Bác. Trước khi tang lễ, những ngày nghe tin Bác mất, Hà Nội mưa liên tục, nhưng khi làm lễ truy điệu Bác thì trời bỗng nhiên tạnh mưa. Tôi và cô bạn hòa vào dòng người đông nghịt, cố chen chân để được tới khu vực quảng trường… Những giọt nước mắt xúc động của hàng trăm ngàn người đổ xuống quảng trường Ba Đình, trong đó có tôi và cô bạn… Ra về, chúng tôi vẫn còn sụt sùi khóc…
Chúng tôi len lỏi ra khỏi khu vực quảng trường và trở lại nơi gửi 2 chiếc xe đạp. Loanh quanh mãi, chúng tôi mới tìm thấy nơi gửi xe. Mà tìm mãi, chẳng thấy xe đâu. Chúng tôi hoảng sợ vô cùng.
- Ôi, chết rồi, xe đạp đâu rồi? Không lẽ bị mất cắp sao? Chúng tôi lo lắng.
Rồi chúng tôi quyết định báo cho công an, xem sao?
- Có đúng các cô để xe ở chỗ này không? Anh công an hỏi chúng tôi.
- Đúng chỗ này! Cô bạn tôi khẳng định.
- Mà hình như chỗ khác hay sao ý! Tôi ngập ngừng nói.
- Vậy các cô cứ đi tìm lại những chỗ khác xem sao nhé! Anh công an nói.
Thế là chúng tôi loanh quanh đi tìm hết tất cả các chỗ có thể để xe, vì xe để tự do, chỗ nào trống thì để, chẳng có người trông, và khu vực gần quảng trường Ba Đình lại rộng lớn, chúng tôi quên mất đã để xe ở chỗ nào. Cứ loanh quanh tìm suốt hàng tiếng đồng hồ, dòng người đi dự tang lễ đã về gần hết rồi, không còn hy vọng thấy xe nữa, thì bất chợt, ở cuối một con phố, chúng tôi thấy chỏng chơ 2 chiếc xe đạp, lại gần thì nhận ra là 2 chiếc xe đạp của chúng tôi! Khỏi phải nói, chúng tôi mừng đến cỡ nào! Xe đạp là phương tiện qúy lắm thời bấy giờ, mất xe, về nhà “ăn đòn” là cái chắc! Ăn đòn cũng còn là may, chứ tiền đâu mà sắm xe khác, để mà đi?

Ngày ấy, Hà Nội còn bình yên lắm… chẳng giống như bây giờ…


19.8.2015/Trần Kim Lan




Thứ Hai, 17 tháng 8, 2015

Hát xẩm : Hà Nội ba sáu phố phường



 Hát xẩm : Hà Nội ba sáu phố phường
NSƯT Thanh Ngoan - NSND Xuân Hoạch
Rủ nhau chơi khắp Long thành

36 phố rành rành chẳng sai:
Hàng Bồ, hàng Bạc, hàng Gai
Hàng Buồm, hàng Thiếc, hàng Hài, hàng Khay
Mã Vĩ, hàng Điếu, hàng Giầy
Hàng Lờ, hàng Cót, hàng Mây, hàng Đàn
Phố Mới, Phúc Kiến, hàng Ngang.
Hàng Mã, hàng Mắm, hàng Than, hàng Đồng
Hàng Muối, hàng Nón, Cầu Đông
Hàng Hòm, hàng Đậu, hàng Bông, hàng Bè
Hàng Thùng, hàng Bát, hàng Tre
Hàng Vôi, hàng Giấy, hàng The, hàng Gà
Quanh đi đến phố Hàng Da
Trải xem hàng phố thật là cũng xinh
Phồn hoa thứ nhất Long Thành
Phố giăng mắc cửi, đường quanh bàn cờ
Người về nhớ cảnh ngẩn ngơ
Bút hoa xin chép vần thơ lưu truyền.

Xẩm Hà Thành 36 phố phường

Tại sao gọi người Hà Nội là người Tràng An?

Tại sao gọi người Hà Nội là người Tràng An?


Câu ca dao cổ tự ngàn xưa gợi nhắc cho ta về nét đẹp người Hà Thành, nhưng ý nghĩa của nó chưa mấy ai đã hiểu rõ. Tại sao lại là “Tràng An”? Trong lịch sử, Hà Nội chưa bao giờ được gọi là Tràng An cả, mặc dù đã từng qua rất nhiều lần thay đổi tên gọi như: Thăng Long, Đại La, Đông Đô… hay nôm na là Kẻ Chợ. Tuy nhiên, trong câu ca trên thì Tràng An đích thị là chỉ Hà Nội - Thủ đô ngàn năm văn hiến của người Việt - chứ không chỉ bất cứ một nơi nào khác. “Tràng An” là một mĩ từ có nguồn gốc xuất phát từ Trung Quốc. Đây vốn là kinh đô của Trung Hoa thời Đường, kéo dài suốt bốn thế kỷ (năm 608 - 907), cũng là bốn thế kỷ thịnh vượng, mang dấu ấn văn hóa Hán nhất. Người Trung Hoa sau này ấn tượng về sự phồn thịnh của kinh đô ấy tới mức đã cấp cho địa danh này một nghĩa mới: Cứ nói đến “Tràng An” tức là nói tới kinh đô. Hơn nữa, với nghĩa danh từ “Tràng An” là một cụm từ ghép cố định, chỉ một địa danh. Còn với nghĩa tính từ thì “Tràng An” còn chỉ sự lâu bền, bình yên, an lành. Như thế, đây là một cách sử dụng điển tích thể hiện niềm tự hào hoài cổ, nhưng ngày nay chúng ta đã Việt hóa làm cho ý nghĩa của hai chữ “Tràng An” trở nên sâu xa hơn (đất Tràng An, phong tục Tràng An…). Câu ca dao trên được xây dựng trên cấu trúc song hành: “Chẳng… cũng thể…”, đặt “người Tràng An” bên cạnh “hoa nhài”, “thơm” sánh với “thanh lịch”. Đây quả là một sự liên tưởng độc đáo! “Nhài” là một loại cây nhỡ, lá hình bầu dục, hoa trắng mọc thành cụm, nở về đêm, có mùi thơm dịu nhẹ, thoang thoảng và quyến rũ. Có lẽ, chính từ phẩm chất này mà dân gian đã chuyển sang để so sánh với nét đẹp của người Hà Nội. “Thanh lịch”, thanh nhã và lịch sự, là một phẩm chất đáng quý. Người thanh lịch không chỉ có cử chỉ tao nhã, lịch sự mà phải là một người có hiểu biết sâu sắc, có cách ứng xử đúng mực, duyên dáng, đáng yêu, tức là người đó phải hội đủ các yếu tố về nội dung và hình thức. Tóm lại, câu ca dao muốn ngợi ca sự thanh lịch của người Tràng An, ắt là điều tất yếu không thể phủ nhận được giống như hương thơm của hoa nhài vậy.
Tuy nhiên, “người Tràng An” là bao gồm những ai và tại sao người Hà Nội - Tràng An lại được đề cao đến vậy? Thật khó mà xác định được điểm mốc nào để gọi là người Hà Nội gốc. Sinh ra ở Hà Nội, hay trưởng thành ở Hà Nội, hay có ông bà cha mẹ ở Hà Nội Người Hà Nội là những người đã sống ở đây từ trước năm 1945 hay trước 1954, 1975? Theo tôi, điều đó không quan trọng. Tất cả những người đang sống và làm việc trên đất Hà Nội, đang cống hiến cho Hà Nội, và kể cả những người đang yêu thương Hà Nội dù chỉ là trong suy tưởng đều có thể coi là “người Hà Nội”. Chúng ta không thể phủ nhận sự thanh lịch của Hà Nội, bởi đó là thực tế. Tính cách thanh lịch đó thể hiện ở cách ứng xử văn hóa mà cụ thể là trong cách nói năng, ăn mặc, giao tiếp… Tiếng nói Hà Nội phát âm đúng, từ ngữ chuẩn xác, có thể làm mẫu mực cho cả nước. Người Hà Nội biết tiếp thu có sàng lọc tiếng nói của mọi miền đất nước, giữ lại những gì tinh túy nhất nên lời nói lưu loát, nhã nhặn lại ý nhị, tôn trọng người đối thoại. Mặt khác, người Hà Nội rất sành ăn uống, họ đã nâng việc nấu ăn lên thành nghệ thuật ẩm thực. Món ăn Hà Nội ngon từ cách chế biến, từ chút gia vị, nước chấm cho đến cách bày biện đẹp mắt, gợi cảm mà không phàm tục, và khi ăn cảm thấy thích thú. Chẳng thế mà bao nhà văn tên tuổi đã dành cả cuốn sách để viết về đề tài này như Thạch Lam với “Quà Hà Nội” hay Vũ Bằng với “Miếng ngon Hà Nội”. Trong trang phục, người Hà Nội ưa sự gọn gàng, tề chỉnh, trang nhã. Đẹp nhưng kín đáo, không hề cầu kỳ lòe loẹt, phô trương lố lăng, họ đã tôn vinh phong cách dân tộc trong trang phục. Đã có không ít người nước ngoài ấn tượng đến sững sờ trước một tà áo dài Hà Nội duyên dáng như mây thu mơ hồ, mặc dù phụ nữ nước họ cũng có những bộ váy dân tộc rực rỡ với nhiều vẻ đẹp. Tính thanh lịch ấy còn được thể hiện trong cách làm ăn, giao tiếp. Sự thanh lịch mà Thăng Long - Hà Nội có được là do cả một quá trình lịch sử lâu dài. Và cũng không thể nào hun đúc, bảo tồn được nền văn hiến thanh lịch ấy nếu không có sự bồi đắp của những tinh hoa khắp mọi miền dành cho Thủ đô. Chẳng hạn như những bài hát hay nhất cho Hà Nội cũng không phải người Hà Nội viết. Hay Bùi Xuân Phái, tác giả của rất nhiều bức tranh đẹp về Phố cổ Hà Nội, cũng là người xuất thân từ tỉnh Hà Đông chứ không phải từ 36 phố phường. Ngày nay, Hà Nội cũng như mọi miền trên cả nước đang mở rộng trên con đường giao lưu và hội nhập quốc tế. Hà Nội đổi mới từng ngày, từng giờ nhưng bản sắc Hà Nội từ ngàn xưa vẫn còn giữ mãi. Với sức sống dẻo dai, với lòng yêu cái đẹp đã được hun đúc từ nhiều đời, người Hà Nội hôm nay đã và đang đẩy lùi những gì không phải là của mình. Từng người, từng gia đình vẫn giữ “nếp nhà” như thể người Hà Nội muôn đời thanh lịch.


 (Sưu tầm-Du lịch Hà Nội)

BÀI THƠ LỤC BÁT VỀ ĐẤT NƯỚC TA

BÀI THƠ LỤC BÁT VỀ ĐẤT NƯỚC TA




Hà Nam, Hà Nội, Điện Biên
Hà Giang, Vĩnh Phúc, Hưng Yên,
Thái Bình
Lạng Sơn, Yên Bái, Bắc Ninh
Bắc Giang, Phú Thọ, Hòa Bình, Lào
Cai
Kon Tum, Đắc Lắc, Gia Lai
Cần Thơ, Bình Phước, Đồng Nai,
Vũng Tàu
Kiên Giang, Bình Thuận, Cà Mau
Nghệ An, Nam Định, Lai Châu, Hải
Phòng
Bến Tre, Đồng Tháp, Vĩnh Long
Bình Dương, Ninh Thuận, Lâm
Đồng, Tiền Giang
Hải Dương, Bắc Kạn, Tuyên Quang
Phú Yên, Đà Nẵng, Quảng Nam,
Ninh Bình
Thừa Thiên - Huế, Hồ Chí Minh
Thái Nguyên, Thanh Hóa, Quảng
Ninh, Cao Bằng
An Giang, Bình Thuận, Sóc Trăng
Hậu Giang, Hà Tĩnh, Đắk Nông,
Quảng Bình
Sơn La, Quảng Trị, Tây Ninh
Bạc Liêu, Quãng Ngãi, Trà Vinh,
Khánh Hòa
Long An, Bình Định nữa là
Sáu tư Thành,Tỉnh trải ba Vùng
Miền
Cùng chung đất Mẹ dịu hiền
Là vùng Biển Đảo gắn liền gần xa
Hạ Long, Côn Đảo, Cát Bà
HOÀNG SA,PHÚ QUỐC,TRƯỜNG
SA...ĐẤT MÌNH.


(Sưu tầm-Chưa rõ tác giả)

Tiếng gà gáy (Trần Kim Lan tự biên tự diễn)

Tiếng gà gáy





Vẳng nghe nhạc khúc thăng trầm
Mơ màng bừng tỉnh… ai đang gọi mình?

Thì ra tiếng gọi bình minh
Giục người thức dậy, khiến tim ngỡ ngàng

Tiếng gà giục giã vang vang
Giữa thành Hà Nội… dâng tràn niềm yêu.

Hương quê, cùng tiếng gà kêu
Nghe như tiếng sáo phiêu diêu non ngàn

Tiếng gà gáy vọng Tràng An
Cùng lời rao sớm hàng ăn ngọt ngào

Giục người: “Mau dậy đi nào
Bình minh đã tới… xôn xao đất trời!“

Tiếng gà lay động lòng người
“Dẫu xa, mãi nhớ - quê tôi, lại về!“

Hà Nội 26-1/22-2-2010/Trần Kim Lan

(Trích từ tập thơ: “Bóng thời gian” – 138 bài thơ lục bát - Thơ Trần Kim Lan
Nhà xuất bản Văn học Hà Nội-Qúy IV 2010)



Thứ Năm, 13 tháng 8, 2015

Clip: Tiếng lòng (Trần Kim Lan tự biên tự diễn)

    Tiếng lòng





“Tiếng Lòng“, là tiếng lòng ta
Tự tâm sâu thẳm, bao la sự đời…

Làm người, không dễ, ai ơi
Mong manh cánh lá - đời người mong manh!

Cuộc đời, ngỡ mãi yên lành
Ai hay đất lở, bão hành khi nao?

Hạnh phúc tựa giấc chiêm bao
Khổ đau chờ sẵn, lao đao rập rình!

Vì đời, luôn sống hết mình
Có ta, có bạn, để tình dài lâu!

16.6.2009/Trần Kim Lan

Ghi chú: Bài thơ mở đầu tập thơ: “Tiếng lòng“ (Thơ Trần Kim Lan- Qúy 1-20110-NXB Văn học Hà Nội)