" Đâu Cũng nh - Nh v quê hương - Ci ngun dân tc - M

y ai mà quên?" (TKL)

Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 29 tháng 8, 2011

Tâm Sự: "Vì Sao Tôi Nghiên Cứu Kinh Thánh Và Chuyển Thành Thơ"?

Tâm Sự: "Vì Sao Tôi Nghiên Cứu Kinh Thánh Và Chuyển Thành Thơ"?


_MSC_CLICK_TO_OPEN_IMAGETôi xuất thân từ một gia đình không có đạo. Cha mẹ tôi là người hoàn toàn không thờ ai cả. Chỉ có ngày lễ, Tết là gia đình tôi có bày ngũ qủa, bánh chưng, cây quất, cành đào (tôi là người gốc bắc) và thắp hương, theo lời cha mẹ tôi nói là để mời ông bà, cô bác, những người thân trong gia đình, … đã tạ thế, về “ăn Tết“, chung vui với gia đình. Cứ thế, tôi được lớn lên và trưởng thành với mọi sự may mắn… Tôi khỏe mạnh, được cha mẹ nuôi dạy, ăn, học đến nơi, đến chốn, trưởng thành, có nghề nghiệp, tự kiếm sống nuôi bản thân…

Cũng như bao bạn trẻ khác, tôi đã biết yêu và khao khát một tình yêu chân thành, một cuộc sống gia đình nho nhỏ, hạnh phúc… Và rồi, tôi đã gặp một người đàn ông mà tôi rất yêu qúy… Thế nhưng, cuộc tình đã tan vỡ trong đớn đau, sầu muộn. Lỗi tại ai? Chẳng tại ai cả! Thế mới kỳ, phải không các bạn? Chỉ tại anh ấy bị bệnh, một thứ bệnh sinh lý, khó đem lại hạnh phúc lứa đôi! Rồi anh ấy đi học xa ở ngoại quốc. Cuộc tình của chúng tôi cũng dần dần đến hồi chia ly thực sự. Tôi lại đến với vài cuộc tình khác. Khởi đầu là tình yêu say đắm, là tiếng cười rộn rã, là hạnh phúc… nhưng kết thúc, lại vẫn là sự chia ly, là nước mắt! Tại sao vậy? Tôi thực sự không hiểu nổi! Vì chúng tôi thực sự yêu nhau, trân qúy nhau… thế mà vẫn phải chia ly! Cùng với một số bạn, đồng nghiệp, chúng tôi đi tìm đến những người thầy bói “nổi tiếng“ đương thời. Vì các bạn của tôi cũng có những trắc trở trong đường đời… rất nhiều người luận đoán cho tôi, nhưng tôi chẳng thấy đúng gì cả và chỉ cười thầm. Bấy giờ, có một người “thầy bói“ đông vô kể người đến, hầu hết là các bạn trẻ (nữ). Tôi cũng đến đó và “ông thầy trẻ“ đó đã “luận đoán tinh vi“ theo kiểu “toán học“, lấy thước đo bằng tay và “chạm“ đúng chỗ “không được phép chạm“, theo luân thường đạo lý… và… Tôi sực tỉnh. Tôi tự nhủ, sẽ không bao giờ tìm đến các “ông thầy bói“ nữa! Đó là nghề kiếm sống “bịp bợm“. Họ lợi dụng cuộc sống trắc trở của con người, nhất là giới phụ nữ để kiếm tiền, để lợi dụng cả về thể xác… Một thời gian ngắn sau, tôi được biết “ông thầy bói“ trẻ đầy dục tính đó đã bị chết (tôi không hiểu vì lý do gì, nhưng nhiều người (trong đó có tôi) cho rằng, có lẽ, chính vì sự bịp bợm của ông ấy mà ông ấy đã bị “trời“ đánh chết!
Cuộc sống lại bình lặng trôi qua với tôi và ước vọng có một cuộc sống gia đình nho nhỏ, hạnh phúc với người mình yêu vẫn chưa nguội tắt trong tôi. Thế nhưng, cuộc tình đến và rồi lại chia ly trong tức tưởi, trong nước mắt… Tại sao? Đó vẫn là câu hỏi ám ảnh tôi nhiều năm. Tình cờ, một cô bạn thân, có giới thiệu cho tôi một người luận đoán tử vi nổi tiếng ở Hà Nội. Tôi đã đến nhiều thầy bói, nhưng chưa gặp ai đoán giỏi cả. Tôi cũng đã đến gặp bà Hoàng Thị Thế là người luận đoán tử ti (theo phương Tây) "nổi tiếng“, mà tôi nghe nói, các ông cán bộ cao cấp bấy giờ cũng tìm đến bà. Tôi có hỏi mẹ tôi ngày, giờ sinh… và luận đoán của bà cũng chẳng giúp tôi thỏa mãn. Về sau, tôi vỡ lẽ ra, bà ghi năm sinh của tôi không chính xác! Vả lại, lúc đó, bà cũng đã nhiều tuổi, bà chỉ luận đoán chung chung, đại khái, muôn người như một… Vì tôi cũng đã đến lần thứ hai, gặp bà, với ngày, giờ, tháng, năm sinh chính xác, nhưng cũng chỉ nhận được dòng viết luận đoán chung chung, ước lệ. Lần này, theo sự giới thiệu của cô bạn thân, tôi đến tìm ông thầy tử vi nổi tiếng ấy (đó là cụ Đức, ở phố Khâm Thiên. Cụ cũng khoảng tuổi với ba tôi, nay cũng khoảng 90 tuổi rồi. Ba tôi thì đã qua đời cách đây vài năm rồi, không biết cụ còn sống không?). Tôi đến, chỉ với sự tò mò, chẳng mấy tin tưởng. Khi tôi vào nhà, quanh ông có đến hơn hai chục người chờ đợi. Tôi kiên nhẫn chờ đợi và lắng nghe những lời ông luận đoán. Ông hoàn toàn bị mù. Ông chỉ luận đoán trên bàn tay. Những lời luận đoán của ông, cùng với sự công nhận “đúng, chính xác“ của những người được luận đoán, khiến tôi phải sửng sốt: có người gia tài bị phá tán, trộm, cướp, có người có con chết yểu, có người vợ chồng chia cắt.v.v… Đến lượt tôi, con dâu ông lấy lịch âm, dương xem ngày, tháng, năm sinh theo âm lịch cho tôi (lần đầu tiên, tôi biết đến ngày, tháng, năm sinh theo âm lịch của tôi) và ông lẩm nhẩm trong đầu, theo tên các vì sao, và ông bấm trên bàn tay, trên các đốt ngón tay… và, lời luận đoán của ông đã khiến tôi “bái phục“ ông vô cùng. Tôi khám phá ra một sự thật: qủa là con người có định mệnh! Định mệnh tốt hay xấu là do giờ, ngày, tháng, năm sinh, do các vì sao, trăng, trời… chiếu mệnh, do ảnh hưởng của cung Phúc đức, của ông bà, tổ tiên, do “nhân qủa“ tốt hay xấu do chính mình tạo nên từ “kiếp trước“ và hiện tại. Vậy là con người có “kiếp trước“, “kiếp sau“, có sự “đầu thai trở lại làm người“, để chịu “nhân qủa“ do chính mình, hay do chính ông bà, dòng họ đã tạo nên.v.v... Về điểm này, đạo Phật có khía cạnh đúng (theo quan điểm của tôi, dựa theo tử vi). Ông luận đoán đường tình duyên của tôi rất trắc trở, khó mà thành, bởi tôi có sao Thiên khôi cư cung Tý chiếu Mệnh: Thiên khôi có nghĩa là người tu hành, cũng có nghĩa là trưởng (là con cả, là lãnh đạo…), cũng có nghĩa là nốt ruồi, sau này gây trắc trở cho đường tình duyên. Ông cũng nói, tôi có hẹn với người dưới âm, nếu được trở lại kiếp người thì sẽ cưới. Nhưng người đó, chưa được trở lại kiếp người, nên người đó “phá“ hạnh phúc của tôi, nên cuộc tình duyên của tôi khó mà thành. Ông còn luận đoán chính xác, nốt ruồi đó nằm ở vị trí nào trong thân thể tôi và cả một chuyện rất riêng tư, chỉ tôi và gia đình tôi biết… vậy mà, ông đã nói ra, chỉ sau vài phút bấm ngày, giờ, tháng, năm sinh trên đốt ngón tay... chẳng chút đắn đo, suy nghĩ nhiều, và ông không hề nói dựa, nói hay lấy lòng khách xem, mà "choảng" thẳng thừng vận xấu, điều rủi ro đang gặp không chút e dè. Ông đã hoàn toàn chinh phục được lòng tin của tôi! Qua tử vi, tôi biết rằng: con người, mỗi một con người bé nhỏ “mang cả một bầu trời thu nhỏ“ trong cuộc đời của họ. Mỗi một đất nước, mỗi một dân tộc “là một bầu trời lớn hơn một chút, nhưng cùng những vì sao, mặt trăng, mặt trời ấy!“ Thế giới con người là một vũ trụ mênh mông bao gồm các vì sao, mặt trăng, mặt trời… Chiếu tỏa và vũ trụ có ảnh hưởng trực diện, quyết định đến sự ra đời, đến vận mệnh của con người, của đất nước.v.v… Mặt trời, mặt trăng, các vì sao… không chỉ có nhiệm vụ chiếu sáng để phân biệt ngày và đêm, để tạo nên mưa, gió, nắng.v.v… mà là những “linh thể huyền diệu“ liên quan mật thiết đến cuộc sống của con người, của trái đất, của thế giới loài người, mà theo tôi, theo quan điểm của giáo hội Công giáo tiên khởi: "Trái đất là trung tâm của vũ trụ“ là chính xác. Quan điểm đó, tôi tin rằng, chính Thiên Chúa đã Mặc khải! Ngày nay, con người có thể thám hiểm mặt trăng, phát hiện ra có hành tinh khác.v.v… Nhưng, những nhà du hành đó đã nhìn thấy gì? Đã khám phá ra điều gì từ mặt trăng, từ những hành tinh ấy? Ở đó, có con người như trái đất không? Các nhà du hành có thấy Thiên Chúa, Thiên Thần không? Chắc chắn là không! Vì chắc chắn là, nếu Thiên Chúa, Thiên Thần, Thánh Thần có đứng trước mặt họ, họ cũng chẳng thể nhận biết, chẳng nhìn thấy gì, chẳng nghe thấy gì cả - Vì giữa con người trần xác thịt với Thiên Chúa, Thánh Thần là một “bức màn che“mà mắt thường chẳng thể thấy được. Ai thấy được Thiên Chúa, Thánh Thần, người đó phải được ơn, được Chúa mở mắt! Dân Do Thái, cụ thể là Áp-ram, các Ngôn sứ, đặc biệt là Ngôn sứ Mô-sê đã được Chúa chọn, đã được Chúa mở mắt, được Chúa ban Thần khí… nên mới có Kinh Thánh Cựu ước… ra đời. Tiếc thay, dân Do Thái đã được Chúa hiển hiện, mặc khải, được tuyển chọn đã chối bỏ Chúa, con cháu Ap-ra-ham đã quay bỏ Chúa để tuân theo dục vọng của mình mà tôn thờ ngẫu tượng vô tri, vô giác.v.v… Vua Salomon giầu có, vinh hiển, thông sáng chẳng ai bằng, là người đã xây đền Thánh để vinh danh Chúa, là người đã được Chúa hiện đến trong mơ, được Chúa mặc khải… thế nhưng, cuối đời, để chiều ý các bà vợ ngoại đạo, đã quay bỏ Chúa… và dân Do Thái đã phải gánh chịu hậu qủa: phải tha phương, lưu đày tứ xứ, phải khốn đốn, gian nan… suốt mấy ngàn năm qua…
Vì thương yêu loài người, vì thương yêu dân Chúa chọn, Thiên Chúa đã sai Con một của Ngài xuống thế để cứu độ nhân gian. Thời Giao ước cũ đã qua, nhường cho Giao ước mới! Giao ước mới giữ lại Mười điều răn của Chúa, không thay đổi, như chính Chúa Giê-su đã nói: “Anh em đừng tưởng, Thầy đến để bãi bỏ luật Mô-sê, hoặc lời các Ngôn sứ! Thầy đến không phải là để bãi bỏ nhưng là để kiện toàn… Trước khi trời đất qua đi, thì một dấu chấm, một dấu phết trong lề luật cũng không qua đi, cho đến khi mọi sự được hoàn thành…“ (Matthêu 5-17/19).

Tại sao Chúa Giêsu lại nói: “Chúa đến thế gian là để “kiện toàn“ luật Mô-sê“? Luật Mô-sê, chính là luật Chúa ban, qua chính Chúa hiện đến, mặc Khải cùng ông Mô-sê. Tại sao lại “kiện toàn“? Bởi vì luật Chúa khắt khe như vậy, nhưng dân Chúa chọn vẫn luôn luôn phạm tội, hết thế hệ này, đến thế hệ khác. Và nhiều thế hệ, đã “áp dụng“ luật lề hết sức “máy móc, thụ động“. Chúa Giêsu xuống thế để “kiện toàn“, có nghĩa là Chúa hướng dạy con người không tuân theo lề luật một cách máy móc, vô tính người, mà phải có lòng thương, phái có tính người, phải khéo léo, uyển chuyển… mới mong cảm hóa được con người, mới mong cải sửa được cái xấu, tội lỗi! Nếu Luật có dạy rằng: “Mắt đền mắt, răng đền răng!“(Luca 6(29-30)-Mt 5(38-39)) thì chớ có hiểu luật một cách máy móc! Chớ móc mắt, nhổ răng kẻ đã móc mắt, nhổ răng người khác, mà phải sửa trị họ theo hiến pháp, phải để cho họ được hối cải, được sửa đổi…
Như câu chuyện về “người phụ nữ ngoại tình“(Ga8(1-11)), theo luật, bị bắt qủa tang ngoại tình thì người đó bị ném đá cho đến chết. Dân Do Thái (nhóm Pha-ri -sêu) dẫn đến Chúa Giê-su người đàn bà ngoại tình và hỏi Chúa nên phải làm gì? Chúa Giê su, thoạt đầu chỉ im lặng, rồi khi họ cứ gặng hỏi mãi, Chúa nói: “Ai vô tội, ném đá trước!“ Và rồi, đám đông ồn ào, kích động đó đã rút lui từ từ, cả già, lẫn trẻ, chỉ còn Chúa Giê-su và người đàn bà, Chúa hỏi: “Không ai lên án chị sao?“ Người đàn bà trả lời: “Không“. Chúa nói: “Cả tôi cũng không! Chị cứ về nhà đi và từ nay, đừng phạm tội nữa!“. Tại sao họ hùng hổ định ném đá giết người đàn bà, mà trước câu nói của Chúa Giê-su, họ lặng lẽ lùi xa? Vì họ cũng có tội! Còn tại sao Chúa Giê-su không luận tội chị? Có phải Chúa Giê-su cũng là người có tội? Không phải, Chúa Giê-su là con Chúa, là Đấng Thánh từ trời xuống, Chúa mang xác phàm con người, nhưng Chúa luôn luôn cầu nguyện, cầu xin Thiên Chúa Cha ban Thần khí, dẫn dắt trong mọi lời nói, hành động, trong mọi lúc, mọi nơi. Thần khí Chúa Cha luôn luôn ngự trong Chúa Giê-su. Chúa Giêsu muốn dạy chúng ta, qua chuyện người đàn bà ngoại tình và nhiều chuyện ngụ ngôn khác là chớ có biến lề luật thành cái máy không tính người mà phải biết áp dụng luật cách khôn ngoan, uyển chuyển, mang tính người, tính nhân đạo! Chúa Giê-su cũng có nói: “Anh em đừng tưởng Thầy đến đem bình an cho trái đất, Thầy đến không phải để đem bình an, nhưng để đem gươm giáo. Qủa vậy, Thầy đến để gây chia rẽ giữa con trai với cha, giữa con gái với mẹ, giữa dâu với mẹ chồng. Kẻ thù của chính mình là người nhà (Mt10(34-36), Lc12(51-53, trích Mặc Khải 7(6)). Chúng ta phải hiểu ngụ ý Chúa muốn nói: Chúa đến để đem Ánh sáng Đức tin đến cho nhân loại. Với Ánh sáng Đức tin đó, có người sẽ được ơn trở lại cùng Chúa Cha, có người vẫn bị bức màn che khuất, không nhận biết có Thiên Chúa, không nhận biết có Chúa Giêsu. Vì vậy, thế gian (gia đình, đất nước.v.v…) sẽ bị phân rẽ bởi Đức tin. Sự phân rẽ này, không có nghĩa là phải khủng bố, phải áp đảo Đức tin, phải buộc kẻ khác phải tuân theo Đức tin của mình. Chính vì hiểu lời Chúa một cách máy móc, thụ động, một chiều mà có người đã đi theo một giáo phái nào đó, tin theo họ và tuân thủ đến chết theo họ mà gây chia rẽ, bất hòa trong một nước, trong gia đình, cha mẹ, anh em… Xin hãy đọc kỹ Kinh Thánh Cựu ước và Tân ước. Trước khi đọc, hãy khẩn cầu xin Thiên Chúa ban cho sự thông sáng để hiểu được lời Chúa, để hiểu được lịch trình dân Chúa chọn, để hiểu được vì sao Thiên Chúa đã sai con Ngài, hay chính là Thiên Chúa nhập thể làm người để cứu độ thế gian. Hãy đọc mỗi ngày một ít, trước và sau khi đọc hãy “xin Chúa ban thông sáng“ và “cảm tạ Chúa“, chúng ta sẽ hiểu được lời Chúa, chúng ta sẽ được Chúa ban Thần khí, Thiên Chúa sẽ ngự trong chúng ta. Chúng ta sẽ hiều được rằng: Có Thiên Chúa trên các tầng trời, có các Thiên Thần, Thánh Thần, có nước Thiên đường. Chúng ta sẽ hiểu được có Chúa Giê-su (qua kinh Thánh Cựu ước tiên báo, qua kinh Thánh Tân ước, qua sách Công vụ Tông đồ, qua Công lịch (Tây lịch), đánh dấu mốc Chúa Giê-su ra đời, mà cả thế giới đều công nhận, sử dụng trên khắp hoàn cầu). Chúng ta cũng hiểu được một điều rất đơn giản, dẽ hiểu: giáo hội Công giáo là giáo hội hoàn vũ, giáo hội do chính Chúa Giê-su gây dựng, để lại cho trần thế, mà chính Thánh Tông đồ Phêrô là người được Chúa Giê-su trao cho “chìa khóa nước Trời“: “Anh là Phê-rô, nghĩa là tảng đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây hội Thánh của Thấy và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. Thầy sẽ trao cho anh “chìa khóa nước Trời“, dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy. Dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy!“(Mt18-19, Mc 8(27-30), Lc9(18-21)). Và nếu có dịp, hãy đến viếng thăm đền Thánh Phê-rô, trên mái tròn đền thờ, giữa các bức khảm đá mầu, danh họa điêu khắc Michelangelo nổi tiếng đã khắc câu: “Và con Phê-rô, một khi đã trở lại hãy làm cho các anh em con thêm vững mạnh!“(Luca 22-23, tiếng Hy Lạp, La Tinh).
Giáo hội Công giáo cùng với những thăng trầm, biến động của lịch sử thế giới trần thế cũng phải trải qua những thử thách, những thời gian thử lửa.v.v… nhưng nhờ Thần khí Chúa ngự, nhờ cầu nguyện liên tục, cầu nguyện hoàn vũ đã nên Thánh thiện, bền vững, tồn tại và trải rộng khắp thế gian suốt hơn hai ngàn năm qua. Có giáo hội nào bền vững, tồn tại lâu dài như thế không? Xin hãy suy nghĩ và chọn lựa cho mình hướng đi đúng đắn nhất để nên Thánh thiện, để được về nước Chúa. Vì chính Chúa Giêsu đã nói: “Tôi bảo thật ông, không ai có thể thấy nước Thiên Chúa nếu không được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên… Gió muốn thổi đi đâu thì thổi. Ông nghe tiếng gió, nhưng không biết gió từ đâu đến và thổi đi đâu. Ai bởi Thần khí mà sinh ra thi cũng vậy!“(Ga3(18)).

Trở lại việc tôi đã gặp đúng thầy tử vi và sự bái phục của tôi đối với sự luận đoán tài tình của ông. Tôi thực sự được thức tỉnh. Tôi biết rằng, con người có định mệnh và có Đấng tối cao trên Trời! Tôi đã mượn cô bạn hàng xóm quyển Tử vi đẩu số (mà trước đó, khi còn ở tp HCM, vô số sách tử vi, bày ra trước mắt, tôi không hề để ý) và ngày, đêm đọc, tìm hiểu. Tôi đã chép tay cả hai quyển sách tử vi. Tôi đã ngày ngày, tranh thủ thời gian, đến nghe ông già luận đoán. Tôi đã tự lập được lá số tử vi, lập được lá số cho chính mình và hiểu được phần nào ý nghĩa của các vì sao. Tôi ghi chép lại những lá số đặc biệt như: chết yểu, chết đường, vợ chồng ly tán, mất của cải, tai ương.v.v… Tôi lập lại những lá số ấy và thấy lời luận đoán của ông chính xác vô cùng! Ông bị mù đôi mắt, sau khi bốc mộ người thân (cha thân sinh). Và ông đã gặp được thầy dạy tử vi qua bàn tay. Bằng cách tập hợp các vì sao, bấm trên các đốt ngón tay. Và ông đã hành nghề, để kiếm sống. Nhờ đến hàng ngày, tôi “học lỏm“ được, qua ông, cách luận đoán, tập hợp các vì sao chính và cũng đã luận đoán cho một số người, cho bản thân và thấy chính xác vô cùng. Tất nhiên, ai biết được những bí ẩn ấy, cũng chính nhờ Thiên Chúa mở mắt cho. Nhưng là con người trần, xác thịt, con người không thể hiểu biết, thông thái được tất cả. Con người, nhà tử vi, nhà khoa học dù thông thái đến đâu, dù luận đoán giỏi đến đâu, cũng không thể nắm bắt được hết cơ Trời. Mỗi người, mỗi nghề nghiệp… là chính do Thiên Chúa ban cho. Dù ta là ai, là dân tộc nào, là dân thường, nghèo nàn, hay người quyền chức, là nhà văn, nhà báo, bác sĩ, tu sĩ, giáo hoàng.v.v… là do chính Thiên Chúa đã an bài cho ta. Nhưng trên sáu tỉ nhân loại (hiện tại) và cả qúa khứ, bao nhiêu dân tộc, bao nhiêu con người đã biết Thiên Chúa? Chỉ có ai, Chúa mở mắt cho, bằng cách này, hay cách khác: qua người thân, qua sách báo, qua Thần khí Chúa ban… là biết Chúa mà thôi! Chính các nhà chiêm tinh đã nhận biết Chúa Giê-su Giáng sinh qua nghiên cứu, quan sát bầu trời… Tôi nghiên cứu tử vi và tự hỏi: “Đạo nào cần phải theo đây?“ Thoạt đầu, tôi theo mọi nggười đi lễ chùa. Rồi tôi cũng về nhà lập bát hương “thờ cúng“ và cũng lập cả bát hương cho nhà các anh, em trai của tôi. Ba tôi nói: “Con thờ ai vậy? Thờ ma, qủy à?” Tôi thấy dao động và chẳng biết phải theo đạo nào? Ba mẹ tôi chẳng hề tin, hay chẳng hề biết có Thánh Thần. Việc tôi nghiên cứu tử vi, đến học hỏi qua ông già tử vi (mà thời gian ngắn sau, ông nhận tôi làm con nuôi, nhờ tôi lập lá số theo yêu cầu của nhiều người, vì ông không viết được), cũng hoàn toàn “bí mật” với gia đinh tôi. Tôi dấu cả nhà về việc đó. đến nỗi, anh trai thứ hai của tôi phát cáu lên vì tôi chẳng mấy khi có mặt ở nhà...
Và cùng một lúc, tôi “tốt nghiệp” khoa tử vi và Cao đẳng Sư phạm hệ chuyên tu (lúc bấy giờ, sau vài năm làm việc, tôi được cử đi học thoát ly hai năm liền, nên cũng có nhiều thời gian hơn, nếu tôi đi làm).
Tôi đi lễ chùa, song tôi chẳng thấy niềm tin, chẳng thấy có gì thu hút tôi trở lại và, một ngày kia, tôi “gặp” quyển sách “Quo Vadis” ( Ngài đi về đâu) viết về hội Thánh tiên khởi ở Roma. Tôi đã say sưa đọc suốt đêm, cho đến sáng thì đọc xong quyển sách. Tôi đã hiểu được đạo nào tôi cần. Tôi đã đến nhà thờ Công giáo, xin học bổn đạo và Cha xứ đã niềm nở chỉ dẫn, đưa sách cho tôi đọc. Tôi đã hàng tuần đi dự Thánh lễ vào ngày Chúa nhật, lễ mừng Chúa Giáng sinh, mừng Chúa Phục sinh, các ngày lễ kính Đức Mẹ, các Thánh. Tôi không dám đi nhà thờ Hàm Long (ngay đối diện, phía trước nhà tôi ở), chỉ vài phút đi bộ là tới, vì tôi sợ ba tôi biết (lúc này, mẹ tôi đã tạ thế). Thế là tôi tìm mua Thánh Giá, ảnh Đức Mẹ hằng Cứu giúp, cùng các Thiên Thần. Tôi bày biện, trang hoàng, ngay trên gác, nơi tôi ngủ. Tôi cầu nguyện hàng ngày: “Lạy Chúa, xin cho ba con không mắng mỏ hay xúc phạm đến Chúa! Xin cho Thánh Giá Chúa, cho ảnh Đức Mẹ cùng Chúa Giê-su, các Thiên Thần... Không bị ba con vứt bỏ! Xin cho ba con không phạm lỗi cùng Chúa! Xin cho tình cha con không bị sứt mẻ vì việc con theo đạo Chúa!” Cứ thế, tôi thầm cầu xin Chúa mỗi ngày, mỗi khi đi đường, mỗi khi đến nhà thờ, trước khi đi ngủ... Và thật đúng là nhiệm mầu: ba tôi hàng ngày leo lên gác, lấy đồ dùng cần thiết cất trên đó, ba tôi nhìn thấy Thánh Giá, thấy ảnh Đức Mẹ, các Thiên Thần, thấy nến tôi thắp... Mà không hề có một lời nào cả, như khi tôi lập bát hương, ba tôi đã mắng tôi. Sau lời mắng của ba, tôi đã hạ bát hương xuống. Nhưng sau khi mẹ tôi mất, ba tôi đã cho lập bát hương, để tưởng nhớ mẹ tôi. Dạo đó, tôi chưa được đọc kinh Thánh (vì ngoài bắc, hầu như chẳng có, vì chính thể là chế độ cộng sản). Theo lệ thường, tôi cũng thắp nhang, mỗi ngày giỗ mẹ tôi, vào dịp Tết.v.v... Tôi chưa hiểu được sự khác biệt giữa các đạo: Thiên Chúa, đạoTin lành, đạo Phật.v.v... Sau này, ở nước ngoài, được đọc kinh Thánh, các sách báo về đạo... Tôi mới được “mở mắt” thật sự. Như tôi đã nói, tôi xin học bổn đạo, chỉ còn chờ “Rửa tội”, vì tôi còn phải tìm người đỡ đầu.v.v... Tôi chẳng biết tìm ai? Dưới nhà tôi, bác hàng xóm theo đạo Công giáo, các con trai, con gái đã bỏ đạo hết vì theo chồng... Còn mỗi bác gái, nhưng tôi không dám nhờ, tôi sợ đến tai ba tôi thì phiền phức... Và cũng chính lúc đang còn lưỡng lự, phân vân... Thì tôi lại gặp một “cú sốc” đau buồn nữa về việc tình duyên: cuộc tình đã chuẩn bị nhẫn cưới, với bao yêu thương đằm thắm... đã lại tan vỡ! Tôi như người mất phương hướng. Tôi vẫn thỉnh thoảng đi dự Thánh lễ, nhưng chưa nhiệt tình xin chịu lễ Rửa tội. Từ ngày tôi được học bổn đạo, tôi đã hiểu, chỉ sau khi chịu phép Rửa tội, mới được nhận Mình Thánh Chúa. Thế mà, trước đó, nhiều năm, tôi thường đi dự Thánh lễ mừng Chúa Giáng sinh do nhà thờ Lớn ở Hà Nội tổ chức (dù không có đạo, dù không mấy hiểu về đạo Chúa, nhưng hầu như thanh niên nam, nữ Hà Nội đều mặc quần áo thật đẹp, đổ xô đến nhà thờ, “xem Thánh lễ”). Tôi cũng thế, nhưng khác với nhiều người, khi dự Thánh lễ, tôi cũng nghiêm trang, thành kính, lên nhận Bánh Thánh, như người có đạo, vì tôi có biết đâu, luật đạo Công giáo là thế nào. Chỉ thấy Thánh lễ thật thiêng liêng, thật kỳ diệu và tôi lên nhận Bánh Thánh, vậy thôi! Một thời gian sau, tôi xuất ngoại. Trước khi rời Hà Nội, tôi có đến gặp Cha xứ để xin làm lễ Rửa tội, nhưng Cha xứ nói: “Gấp qúa, không được! Để Cha viết giấy cho, rồi đến xứ nào thì gặp cộng đoàn Việt Nam, xin Rửa tội”. Nhưng, tôi không có dịp để gặp lại Cha xứ nữa, để xin giấy chứng nhận, tôi đã học bổn đạo. Tôi được xuất ngoại dễ dàng, sau chín tuần thứ bảy, tôi đến nhà thờ Chúa Cứu Thế (phố Lâm Đồng), cầu xin Đức Mẹ Maria cầu Chúa, cho tôi được xuất ngoại... và một thời gian ngắn sau, Đức Mẹ (những hai người, giống Đức Mẹ: một Người hình sáng trắng, một Người tỏa sáng xanh...) hiện về trong mơ: “Con sẽ được xuất ngoại như ý nguyện!” Qủa như lời Đức Mẹ trong mơ, anh trai tôi gửi giấy mời về (lần thứ hai), lần đầu anh tôi gửi giấy về (tôi không đến nhà thờ cầu xin), gặp trắc trở, chưa đi được... Lần này, tôi nhanh chóng làm thủ tục xuất ngoại...
Tại xứ người, tôi đã tìm đến nhà thờ gần nhất, dự Thánh lễ. Nhưng đó lại là nhà thờ Tin lành! Lúc đầu, tôi chưa biết tiếng, nên nghĩ nhà thờ nào cũng thế (lại cũng không biết là có đạo Tin lành, ngoài bắc, thời đó, chỉ có nhà thờ Công giáo, nên tôi cũng nghĩ là nhà thờ thì là đạo Công giáo chứ còn gì nữa). Sau khi học tiếng, thì tôi biết đó là nhà thờ đạo Tin lành. Rồi ông Mục sư thật niềm nở, tốt bụng, đã giúp tôi có nhà ở. Nhưng tôi vẫn hỏi: “Thế nhà thờ Công giáo ở đâu?”. ngài Mục sư đã chỉ cho tôi hai nhà thờ gần nơi tôi ở. Thế là, lúc này, tôi đã đi dự Thánh lễ cả hai nhà thờ: Công giáo, Tin lành!
Nhưng tôi đã quyết định: xin chịu phép Rửa tội ở nhà thờ Tin lành, nơi bên trong thiết kế nhà thờ khiến tôi có cảm tưởng như đang ở nhà thờ Lớn ở Hà Nội, nơi ngài Mục sư đã giúp tôi nhà ở. Tôi vẫn nghĩ, Tin lành hay Công giáo, đều thờ kính Chúa, hay đạo Phật cũng vậy, đều giúp con người hướng thiện. Sau này, đọc kinh Thánh, sách báo, tôi mới hiểu biết nhiểu hơn về sự khác biệt giữa các đạo. Và rồi, một ngày kia, sau một chặng đường dài đi vòng quanh (tôi nghĩ, chính Thiên Chúa đã muốn vậy), Thiên Chúa đã dắt tôi trở về đúng con đường Chúa muốn: đêm ngày 02-02-1998, trước khi đi ngủ, tôi cầu nguyện như thường lệ và cầu xin một việc hoàn toàn riêng tư. Và nửa đêm, có cái gì đó nặng trĩu, đè trên toàn thân thể tôi, khiến tôi mở mắt, tỉnh dậy và thấy một vầng Sáng rực rỡ tỏa quanh tường, phía trên giường tôi nằm ngủ, ở giữa là khuôn mặt, giống như mặt người, giống như hình Chúa, nhưng rực rỡ Hào quang và Ngài mỉm cười với tôi...” Tôi không thể cất lên được lời nào vì Thần khí vẫn đè nặng lên thân thể tôi, khiến tôi cũng không thể cựa mình được và rồi, “Hình Chúa” cùng vầng Sáng, từ từ biến mất... Tôi nghĩ rằng, đó chính là Thiên Chúa Giáng ngự, vì chỉ có Thiên Chúa, mới có Hào quang rực rỡ như thế, giữa đêm đen... Bởi tôi cũng đã thấy linh hồn hiện về trong đêm, nhưng không có Hào quang... Thiên Chúa, cùng vầng Hào quang rực rỡ ấy còn sáng mãi trong tôi đến nay và mãi mãi. Chỉ vài tháng, sau sự hiển hiện kỳ diệu đó, vào tháng 7- 1998, tôi quyết định trở lại đạo Công giáo. Tôi tìm đến nhà thờ nữ Thánh Elisabeth. Tôi được làm lễ tiếp nhận trở lại đạo Công giáo và lễ “Thêm sức”. Vào dịp Lễ mừng Chúa Phục Sinh, tôi được tham dự Hành hương giáo đô Roma vào đúng năm Thánh 2000. Tại đây, tôi đã được đến viếng hang Toại Đạo mà quyển truyện “Ngài đi về đâu” đã mô tả. Rồi mùa hè năm 2001, tôi được đến viếng thăm Lộ Đức (Pháp), nơi Đức Mẹ đã hiển hiện và Fatima (Bồ Đào Nha), nơi Đức Mẹ đã hiển hiện... Tôi chợt nhớ lại giấc mơ hai “Đức Mẹ đã hiển hiện...”, khi thấy hình Đức Mẹ Fatima có bán tại các tiệm với mầu sáng xanh, có dạ quang... Và sau khi trở về, tôi đã dành thời gian để sáng tác, để ghi lại những cảm xúc. Như thế, sau một năm, tôi hoàn thành tập Thánh thi (ca): “ Đường dẫn đến nước Trời” (ghi lại cảm xúc, cảm nhận của tôi về Chúa qua kinh Thánh Tân ước, nhiều bài, dựa theo kinh Thánh Tân ước. Tôi đã chuyển thể thành thơ (ca), gần bảy chục bài. Và từ cuối năm 2002 đến Tháng 10-2003, tôi hoàn thành tập Thánh thi (ca): “Chặng đường Dân Chúa” (nhiều bài, dựa theo kinh Thánh Cựu ước và Tân ước, theo diễn biến, lịch trình đã diễn ra với dân Chúa chọn (Do Thái) cùng với cảm xúc, cuộc sống , suy nghĩ của tôi... Bao gồm gần hai trăm bài. Và cũng trong khoảng thời gian từ năm 1996 đến nay (chủ yếu là từ năm 1996-2003, tôi đã sáng tác gần 300 bài thơ: “Đời Thường”, hơn 60 truyện ngắn và 1 truyện dài: “Truyện ký”. Khoảng hơn 100 bài thơ và một số truyện ngắn, tôi đã cho đăng tải trên các báo ở hải ngoại và trang Web Hương quê cùng với một số truyện ngắn... Và tôi sẽ cố gắng, dần dần, chuyển đăng tới bạn đọc... Nếu thời gian và sức khỏe cho phép!
Chúa dắt tôi đi “vòng quanh thế giới” và chỉ cho tôi thấy tất cả, để nhận biết đâu là thật, đâu là giả. Chúa đã hiển hiện đến cùng tôi. Trước đó, khi còn ở Hà Nội, các Thiên Thần Raphael cũng đã được Chúa sai đến “Đón tôi về trời”. Rồi Đức Mẹ cũng hiện về trong mơ... Chúa cũng cho tôi thấy cả linh hồn, ngay cả khi tôi chưa biết có Chúa, có Thiên Thần, Thánh Thần. Linh hồn cũng là chính con người, nhưng là thể khí, là âm khí và linh hồn không có vầng sáng, vì linh hồn là sự chết. Thiên Chúa, Thiên Thần cũng là thể khí, nhưng là dương khí, là Thần khí, là sự sống, là Thánh Thần và như Chúa Giêsu đã nói: “Phải được sống lại bởi ơn Trên, bởi Thần khí và Nước thì mới được về nước Chúa!”
Chính vì thế, theo sự suy nghĩ của tôi, qua sự hiểu biết về tử vi, về cuộc sống, qua những gì tôi được nhìn thấy trong đêm, qua sự nghiên cứu kinh Thánh... Tôi nghĩ rằng, không phải ai cũng được nhìn thấy linh hồn, không phải ai cũng được nhìn thấy Thiên Chúa, Thiên Thần, Đức Mẹ… Con người phải chết đi, rồi được sống lại nhờ ơn Chúa ban mới được về nước Thiên đường. Ngược lại thì, hoặc là linh hồn phải xuống hỏa ngục (vì tội lỗi). Hoặc là còn lang thang giữa trần thế (vì còn chưa được siêu thoát). Hoặc trở lại kiếp người (để đền bù tội lỗi, để hưởng phúc đức nhờ sống ngay lành). Nhưng, kiếp người không phải là đỉnh điểm, vì chính tội lỗi do con người tạo nên, mà đỉnh điểm chính là cuộc sống Thiên đường, là được sống lại nhờ Thần khí và Nước như Chúa Giêsu đã nói: Đó là Chúa Giêsu, là Đức Mẹ Maria, các Đấng Thánh, đó là những người được đặc ân.v.v... Hoặc phải đến “Ngày phán xét cuối cùng”; như Chúa Giêsu “Đã tiên báo để phân loại kẻ sống và kẻ chết, kẻ dữ và người hiền.v.v...
Ngày ấy là bao giờ, chỉ có Thiên Chúa Cha mới biết được!”

Chúa Giê-su là Thiên Chúa Duy nhất, là Đầu tiên, và là Cuối cùng. Chúa Giê-su Là Tình thương, là Đấng Cứu độ nhân loại. Hãy bằng việc làm mà nhận biết Chúa, như chính Chúa Giê-su đã phán. Chúa Giê-su cũng kiện toàn mười Điều răn của Chúa trong câu: “Kính Chúa, yêu người!”. Mọi đạo giáo đi ngược lại điều dạy của Chúa Giê-su, thì ta cần phải suy xét, thận trọng... để tìm cho mình hướng đi đúng cho cuộc đời mình, để được về nước Thiên đường, như Chúa Giê-su đã phán.
Nếu cha mẹ, anh em, bè bạn, người đồng loại chúng ta có khác đạo, khác chính kiến với chúng ta, không vì thế mà xa lánh, loại bỏ hoặc gây khủng bố, tàn sát lẫn nhau, dẫn đến gây đổ máu, gây chiến tranh, gây chia rẽ, bất hòa: con từ bỏ cha mẹ, cha mẹ từ bỏ con cái, anh em từ bỏ nhau, người trong một nước tranh giành, giết hại lẫn nhau, người nước này tàn sát, chiếm đánh nước khác, giáo phái này giết hại giáo phái khác, đạo này, tìm cách loại trừ đạo khác.v.v... Ở đâu có sự bất hòa, chiến tranh, đổ máu vì cớ đó, thì người đó, nước đó, đạo đó... đã bị qủy Sa-tan nhập vào... và làm thế nào, để đuổi được qủy ra? Làm thế nào để biến cải tâm linh con người một cách hữu hiệu nhất? Chỉ có một cách, theo suy nghĩ, từng trải của tôi, là: “Hãy đến với Thiên Chúa”, cuộc sống, tâm hồn bạn là Thánh đường thờ phượng Thiên Chúa. Hoặc hãy đến với đạo Công giáo do chính Chúa Giê-su xây dựng, để lại! Hãy cầu nguyện, cầu nguyện liên tục hàng ngày, trước khi đi ngủ, mỗi khi đi đường, mỗi khi rảnh rỗi, mỗi khi đến nhà thờ. Nếu ta cầu nguyện, nói chuyện, khẩn cầu Chúa liên tục, không ngừng thì Thần khí Chúa sẽ đến ngự trong chúng ta và bằng cách này hay các khác, Thiên Chúa sẽ giúp chúng ta điều chúng ta mong muốn, khẩn cầu... Nếu chúng ta gặp bất hạnh trong cuộc sống: gia đình bất hòa, đau yếu, bệnh tật, trắc trở về nhân duyên... xin đừng nên đến tìm các thầy bói, ngay cả thầy tử vi... làm gì, vì họ sẽ không thể giúp gì cho chúng ta đâu, mà hãy khẩn cầu Thiên Chúa, vận mệnh, định mệnh của bạn sẽ được biến đổi theo chiều hướng tốt đẹp nhờ sự khẩn cầu của bạn, những vì sao xấu chiếu, sẽ mờ đi, và những vì sao tốt sẽ tỏa sáng hơn, nhờ sự khẩn cầu, nhờ sự sống ngay lành, phước thiện, thánh thiện của bạn. Nhưng cũng nên nhớ rằng, không phải ai khẩn cầu, ước nguyện... cũng được như ý đâu! Chúa đã dọn sẵn cho mỗi người một cuộc sống, một hướng đi, không toại nguyện lúc này, ta sẽ được toại nguyện lúc khác, cách khác. Ta khổ đau lúc này, để ta được sung sướng lúc khác. Ta giữ vững Đức tin ở đời, thì dù khốn khó, dù thử thách... ta sẽ được Thiên Chúa đền bù xứng đáng: được về nước Chúa!
Kể từ khi được học bổn đạo (ở nhà thờ Công Giáo, Hà Nội), tôi đã hầu như không nghiên cứu tử vi nữa, vì tôi “phó cuộc đời tôi vào trong tay Chúa Quan phòng“, và tôi thật bình thản trước bao nhiêu sóng gió của cuộc đời: nhờ tôi cầu nguyện hàng ngày, “nói chuyện” với Thiên Chúa, với Mẹ Maria, với các Thiên Thần, các Thánh mỗi ngày, và tôi lần chuỗi hạt Mân côi mỗi ngày, bấm theo đốt ngón tay... và điều kỳ lạ, phép lạ đã xảy ra: Năm 1999, cháu tôi béo phì một cách khác thường, sau sáu tháng tôi ngày ngày khẩn cầu Chúa và khuyên bảo cháu: cháu tôi đã chăm chỉ luyện tập, trở lại hình dáng bình thường, đẹp đẽ. Rồi, cháu tôi lại theo bạn, đua đòi nghiện hút. Tôi khuyên bảo cháu và khẩn cầu Chúa cứu giúp: vài tháng sau, cháu tôi không hút nữa! Một cháu trai khác ở Hà Nội sao lãng học hành, theo bạn bỏ học đi chơi, tính tình biến đổi theo chiều hướng xấu. Tôi gọi điện khuyên nhủ cháu, đồng thời cầu khẩn Chúa cứu cháu tôi... Cháu tôi đã trở lại ngoan ngoãn, chăm chỉ học hành... Chưa hết, anh trai tôi bị tai nạn ô tô, giập xương đùi, mổ hai lần, mỗi lần mổ kéo dài 7 tiếng, vậy mà xương không liền. Năm 2000, tôi cầu nguyện liên tục cho anh tôi, và đặc biệt, trong chuyến đi Hành hương Roma vào dịp lễ mừng Chúa Phục sinh năm 2000... Sau chuyến đi, tôi gọi điện cho anh tôi: anh tôi báo, vừa đi khám về, bác sĩ nói: xương đã liền! Chẳng lẽ đó là sự ngẫu nhiên ư? Tôi nghĩ rằng, đó chính là Thiên Chúa đã nhận lời tôi khẩn cầu và cứu giúp anh tôi! Còn nữa, anh trai tôi ở Hà Nội mắc bệnh máu có đường và bệnh viêm gan từ cách đây hai mươi năm, nay tái phát trở lại. Biết được tin, tôi khẩn cầu Đức Mẹ, khẩn cầu Thiên Chúa cứu giúp anh tôi. Tôi cầu nguyện liên tục, mỗi ngày, lần chuỗi hạt Mân côi mỗi ngày và đặc biệt, khi tôi đi dự “hội nghị niềm tin” của người Việt Nam ở hải ngoại vào tháng 7-2003, tại Roma, khi trở về, tôi gọi điện cho anh tôi, anh tôi nói: “Anh lành bệnh rồi! Bệnh gan, tưởng phải thay gan, nay đã hoàn toàn khỏe mạnh, bác sĩ khám nghiệm bảo thế! Anh đã luyện tập thể dục thường xuyên, đi bộ hàng ngày... nhờ thế, lành bệnh!”, chỉ sau sáu tháng tôi liên tục cầu nguyện cho anh! Anh tôi không hề biết rằng, mỗi giây, mỗi phút, mỗi ngày, tôi đã khẩn cầu Đức Mẹ. khẩn cầu Thiên Chúa chữa lành cho anh tôi... Tôi tin rằng, nhờ thế, nên anh được lành bệnh! Nhờ sự cầu nguyện của tôi, Chúa tác động, khiến anh tôi luyện tập, đi bộ, đó chẳng là “Phép lạ”, mà anh tôi lành bệnh hay sao?
Thiên Chúa thử thách Đức tin của tôi, cũng “tương tự”, như đã thử thách Đức Tin của Ông Gióp (kinh Thánh Cựu ước): tôi bị bệnh viêm đa khớp (sau 2 năm làm việc tại quán ăn, tôi phải xin nghỉ việc). Tìm được việc làm phù hợp với sức khỏe, thật khó. Tôi không có việc làm, từ đó. Thế rồi, nhà ở thay chủ mới, kiện tụng liên miên.v.v... Gia đình anh trai, em trai tôi chưa ai được trở về cùng Chúa, mặc dù tôi đã cầu nguyện liên tục... Rồi các anh trai tôi lại lâm vào cảnh: người thân “ra đi”, hạnh phúc gia đình tan vỡ, lại lâm vào cảnh khốn cùng... Thế nhưng, tôi vẫn không nản chí... Tôi vẫn hát Thánh ca (do tôi sáng tác), mỗi ngày cầu nguyện cho nhân loại, cho đại gia đình tôi, cho bạn bè thân thiết, cho riêng gia đình anh tôi, cho bản thân tôi.v.v... và tôi tin rằng Thiên Chúa sẽ nhận lời tôi khẩn cầu, như Thiên Chúa đã nhận lời tôi nhiều lần

Tôi kể về những việc đó, để mong, chúng ta hãy tỉnh thức! Chớ để qủy Sa-tan cám dỗ mà đi lạc đường về nước Chúa! Thiên Chúa luôn luôn chờ mong con người trở về cùng Chúa vi Thiên Chúa chính là Đấng Sáng tạo, là Cha của loài người! Hãy đến với Chúa, dù bạn là người có đạo hay không theo đạo nào! Điều quan trong là: “Tâm hồn, cuộc sống của chúng ta hãy là Thánh đường thờ phuợng Chúa! Thần khí Chúa sẽ ngự trong chúng ta!”


Nước Đức, Chúa nhật 28-12-2003
Trần Kim Lan

Bổ sung:

-Năm 2008: Tôi đã lập trang Web riêng: www.trankimlan.de
-Năm 2010: Tôi đã cho xuất bản hai tập thơ: Tiếng Lòng(78 bài) và Bóng Thời Gian (138 bài thơ Lục bát) (NXB Văn Học, Hà Nội, Việt Nam)
-Và tổng số bài thơ ĐỜI THƯỜNG đã trên 1000 bài (sắp tới sẽ xuất bản)

(5-2011/Trần Kim Lan)
  


THẮP SÁNG ĐỨC TIN

Đời người khốn khổ điêu linh
Khốn cùng chưa hết đã rình gian nan
Niềm vui chưa trọn đã tan
Nụ cười chưa tắt, lệ tràn buồn thương…

Vì đâu khắp chốn, bốn phương
Nhân gian khốn khó, muôn đường khó khăn?
Chung quy cũng bởi chữ “tâm“
Tâm người hướng thiện, thế gian yên lành!

Tâm ác, sự ác lộng hành
Chính là nhân qủa rành rành đời nay
Từ nhân, tích phước càng dày
Phước hạnh càng lắm, đắng cay chẳng còn…

Thắp sáng đức tin tâm hồn
Nguyện cầu, thánh thiện, Thiên đường hằng trông…
Hết mưa, trời lại ửng hồng
Chỉ cần nhen mãi lửa lòng: Thiện Tâm!

Nước Đức thứ Hai ngày 26-7-2010
Trần Kim Lan  

Không có nhận xét nào: